Đạo Cao Đài có thân Nhật không ?

Đạo Cao Đài có thân Nhật không ?

(Bài thuyết đạo của Ngài Bảo Pháp Thanh Long Lương Vĩnh Thuật tại Sài Gòn, mùa Thu năm Giáp Thìn – 1964).

Kính thưa…

Cho đến ngày nay vẫn còn lầm lẫn vấn đề Đạo Cao Đài có thân Nhật Bản hay không ? Thật là một vấn đề rất đáng buồn !

Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới, tôn thờ Đấng Thượng Đế Chí Tôn, hoá sanh muôn loài vạn vật, thì cả loài người trên mặt đất nầy không phân biệt màu sắc chủng tộc đều là con cái thân yêu của Ngài.

Đạo Cao Đài còn có tôn chỉ Vạn Giáo Nhất Lý, Thiên Nhân Hiệp Nhất, chủ trương xây dựng một nền tư tưởng Đại đồng, mưu cầu hạnh phúc tự do cho con người, thì làm gì có việc thân nước nầy, thù nước kia, thân người nầy, không thân người khác, vấn đề đã vô lý và tự mâu thuẫn. Như vậy thì làm sao có việc thân Nhật Bản phải đặt ra?

Vấn đề có phần phức tạp! Để rộng đường soi sáng lẽ thật, xin ôn lại một vài nét đại cương quá trình lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp của dân tộc VN ta khoảng đầu thế kỷ 20. Nghĩa là sau các phong trào Cần Vương Văn Thân hạ màn. Năm 1905 Nhật thắng Nga, danh vang thế giới, hùng khí Đông phương giương lên. Nhân cơ hội nầy, cụ Phan Bội Châu sang Tàu vận động trợ lực đánh đổ ách đô hộ Pháp, sang Nhật bản câu viện… Chủ trương nầy, cụ Phan Chu Trinh không tán thành. Và sau chuyển thành phong trào Đông Du, đưa thanh niên  xuất dương du học. Tình thế nước ta lúc bấy giờ tinh thần yêu nước nhiệt thành, ý chí chống ngoại bang đô hộ mãnh liệt, như là một truyền thống dân tộc, khi ngấm ngầm, khi bộc phát, vẫn âm ỉ trong hàng ngũ sĩ phu, trong các tầng lớp dân chúng. Nhưng trừ một số các nhân vật đã ra nước ngoài như các cụ Tăng Bạt Hổ, Phan Sào Nam, Nguyễn Thượng Hiền đông du, các cụ Phan Tây Hồ, Nguyễn Ai Quốc Tây du, hoặc giao tiếp nhiều vơi báo chí sách vở nước ngoài như cụ Huỳnh Thúc Kháng… Còn phần đông thì ý thức chính trị chưa mấy rõ ràng, nên đa số phái cựu học đều chịu ảnh hưởng cụ Phan Sào Nam theo phong trào Đông du, nhất là ở nam Kỳ từ các cụ Nguyễn Thành Hiến đến Đốc Phủ Chiêu và nhiều nhân sĩ  khác v.v…

Năm 1908 sau khi Nhật Bản kỳ hoà ước vơi Pháp, vì quyền lợi đôi bên, Nhật đã theo yêu cầu Pháp đuổi tất cả người VN yêu nước, cả du học sinh trong vòng 24 giờ phải ra khỏi đất Nhật, trong số tất nhiên có cả Chí sĩ Phan Bội Châu, chỉ còn mình Kỳ Ngoại Hầu Cường Đễ được lưu trú lại.

Thế là sách lược cầu viện Nhật mà người ta gọi là phong trào thân Nhật của cụ Phan Bội Châu đã tiêu ma ngay từ lúc đó. Cụ Phan Bội Châu cùng một số đồng chí, một số thanh niên phải bôn tẩu trên đất nước Tàu và các nơi khác.

Năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị Pháp bắt cóc ở Thượng Hải, đưa về nước, chuẩn bị đưa ra toà ở Hà Nội để nhận lãnh một loạt án tử hình vì tội yêu nươc. Nhờ phảnứng của toàn quốcdân nên nguời Pháp không dám xử chỉ đưa vô giam lỏng tại bến Ngự Huế.

Như vậy, vấn đề thân Nhật đã bị khai trừ từ bao nhiêu năm rồi, còn có gì phải đề cập đến ?

Năm Bính Dần (1926), tôn giáo Cao Đài chính thức ra đời tại Mièn Nam nước Vịêt. Nền tôn giáo mới, vói sứ mạng mơi, nền tư tưởng mơi ứng hợp với hoàn cảnh năm châu họp mặt, với khát vọng mọi người đang mong muốn một nền tư tưởng đại đồng… Hơn nữa, giáo thuyết Cao Đài tin thờ Trời Phật, ông bà, tinh thần Tam giáo đồng nguyên, theo truyền thống tín ngưỡng dân tộc vơi những lới Thánh huấn buổi đầu của Đức Cao Đài Thượng Đế :

“Hảo Nam bang, hảo Nam bang,

 Tiểu quốc tảo khai hội Niết Bàn…”

Nghĩa là: Tốt đẹp thay Nước Nam! Tốt đẹp thay nước Nam!, một nước nhỏ Trời mở hội Niết Bàn. Và những lời Thánh huấn khác:

“Từ đây nòi giống chẳng chia ba,

Thầy hiệp các con lại một nhà…”.

Lời Thánh huấn đã nói rõ dân tộc VN là một giòng giống Tiên Rồng. Đất nước VN là một, Nam Bắc chung nhà. Cái ranh giới Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ do chế độ thực dân Pháp đặt ra để chia rẽ, để cai trị, từ đây (1926) đã xoá bỏ không còn… Lời Thánh huấn ấy là những  luồng gió đầy sinh khí hào hùng, thổi mạnh vào các giới sĩ phu, các tầng lớp dân chúng, kích thích tinh thần đạo đức dân tộc bừng dậy, thành một phong trào hâm mộ đạo mới, gia nhập đạo mới ồ ạt như trào nước đang dâng, tất nhiên trong số trong số nhập đạo có một số nhân sĩ và đồng bào yêu nước trước có tham gia phong trào Đông du hoặc Tây du đã nói trên.

Thế là từ đó, chính quyền đô hộ Pháp bắt đầu nghi ngờ mối đạo mới Cao Đài là hậu thân của phong trào Đông du thân Nhật và tìm mọi cách để hạn chế, ngăn cấm đạo Cao Đài, một mặt xúi Triều đình Huế ra đạo dụ số10 “Nhất thiết Cao Đài thư tịch bất đắc truyền bá Trung Kỳ Bắc Kỳ”, nghĩa là cấm hẳn Kinh Sách Đạo Cao Đài không được truyền bá ra Trung và Bắc Kỳ.

Nhưng vì lòng tin đạo quá nhiệt thành, mọi ngăn cấm đều vô hiệu, người Pháp phải dùng đến biện pháp băt bớ, triệt hạ Thiên Nhãn (Thánh tượng thờ) và càng làm mạnh, càng xúc phạm đến tự do tín ngưỡng, quần chúng bổn đaọ cang phẩn uất chống đối. Nhất là ở Nam Kỳ xứ thuộc địa, được hưởng chế độ theo như bên Pháp và trng hàng Chức sắc Đạo Cao Đài lại một số viên chức thuộc ngạch quan lại Pháp, các ông Phủ, Đốc phủ sứ, Hội đồng, Điền chủ và cả giới trí thức lúc bấy giờ, nên có những cuộc vận động can thiệp đến bên Pháp, nhờ báo chí, nhờ phe Xã hội cấp tiến, Mặt Trận Bình Dân Pháp lên tiếng bênh vực.

Để che đậy vịêc làm của mình, chính quyền đô hộ Pháp ở Đông Dương tìm cách chụp mũ cho Đạo Cao Đài là một tổ chức chính trị thân Nhật, xuyên tạc việc Đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn là Mặt Trời, và kinh cúng của Đạo Cao Đài có câu:”Anh Thái Dương rọi trước Phương Đông” là bằng cớ thân Nhật. Và cứ mỗi lần nhân dân nổi dậy, đòi cởi bỏ ách nô lệ, do tinh thần yêu nước hoặc anh em Cộng Sản thúc đẩy, là những lần bổn đạo Cao Đài bị xét, bắt nhiều nhất là ở Trung Kỳ, những án danh kỳ quái được các phủ huyện đưa ra: “Cộng Sản dữ Cao Đài vô dị”, nghĩa là Cộng Sản và Cao Đài không khác gì…!

Thế rồi, Thế chiến thứ 2 bùng nổ, mùa thu năm 1940, quân Nhật kéo vào Bắc Việt Nam, lúc đến Lạng Sơn, Cao Bằng, có một số người Việt yêu nước chống Pháp, vội vã ra hợp tác với Nhật, thì như lần trước 1908, theo yêu cầu của Pháp, người Nhật đem số người ra hợp tác ấy trao cho Pháp xử… Bên trời Au thì quân Đức đánh thẳng vào nước Pháp. Trước tình thế “lưỡng đầu thọ địch” lúc bấy giờ, chính quyền đô hộ Pháp càng khủng bố bắt bớ bổn đạo Cao Đài ráo riết hơn bao giờ hết, nhất là tại địa phương các tỉnh miền Trung, hàng loạt Thiên Nhãn thờ bị triệt hạ, các Thiên Bàn, Thánh Thất lần hồi bị đóng cửa, các Chức sắc, bổn đạo lần lượt bị bắt giam. Rồi đến miền Nam, các Thánh Tịnh, Chức sắc, bổn đạo Tiên Thiên cũng bị đóng cửa, bị bắt trước, lần đến các Thánh Thất các Chi Phái Đạo tiếp theo.

Lúc ấy, luận điệu vu khống, chụp mũ mặc tình tung ra, chữ Cao Đài viết tắt CĐ hết nói “Cộng Đảng” đến nói “Cường Đễ”, có lẽ vì tôn giáo, nếu không họ cũng dám nói là “Côn đồ”.

Thân Cộng Sản, thân Nhật, nay thêm nữa là thân Đức, vì các Thánh Đường, Thánh Thất, Thánh Tịnh Cao Đài, trên chót các lầu chuông trống có gắn biểu hiệu chữ Vạn, mặc dầu chữ Vạn ấy trái chiều với chữ Vạn Đức Quốc Xã, và chữ Vạn đó là biểu hiệu của Phật giáo từ lâu đời rồi.

Thế là có lệnh lập tức triệt hạ chữ Vạn. Nhưng vì đức tin, bổn đạo không dám triệt hạ, phải lấy gỗ đóng thành khuôn vuông hình chữ Điền, có nơi lại lấy thùng thiết đậy chữ Vạn lại thành ra biểu hiệu cái thùng thiết ! Đau buồn cho một số tượng Phật ở các chùa, trước ngực tượng Phật có hình chữ Vạn cũng bị tẩy xoá…

Năm 1941, quân Nhật kéo vào SG và đóng rải rác khắp nơi trong nước thì việc khủng bố Đạo Cao Đài càng khốc liệt hơn. Từ miền Trung đến miền Nam, các Thiên Bàn, Thánh Thất, Thánh Tịnh đều bị đóng cửa hết. Các Hướng Đạo, Chức sắc đến các đạo tâm cũng bị bắt. Đại khái miền Trung quí vị Hướng Đạo Trần Nguyên Chất, Huỳnh Ngọc Trác, Nguyễn Quang Châu, Nguyễn Đán, Trần Nguyên Chí… Miền Nam có quí vị HĐ phái Tiên Thiên như  Lê Kim Tỵ, Nguyễn Thế Hiển, Phan Văn Tòng, Nguyễn Bửu Tài, Trần Văn Thứ, Trần Công Khai….

Và đến ngày 27/7/1941, Toà Thánh Tây Ninh Hộ Pháp Phạm Công Tắc và các Chức sắc lớn như Trần Duy Nghĩa, Đỗ Quang Hiển, Thái Văn Gấm, Nguyễn Văn Phấn, Trần Ngọc Sang và số đông các Chức sắc cấp nhỏ và đạo tâm cả miền Trung miền Nam không kể hết đều bị bắt, trừ ra một số chạy trốn thóat tứ tung như các ông Đặng Trung Chữ, Cao Đức Trọng phải chạy trốn sang Xiêm chẳng hạn và một số còn lại là công chức chưa ra hành đạo nên tạm yên. Đến tháng 9/1941, Toà Thánh Tây Ninh bị quân đội Pháp chiếm đóng, các Thánh sở đến nhà in, thư viện, viện bảo tàng đều bị quân Pháp khuân chở đi hết ! Đến đây, không những tự do tín ngưỡng bị tước đoạt mà nơi Thánh Địa tôn nghiêm còn bị ô uế, Thánh thể Hội Thánh bị hạ nhục, lòng căm phẫn của toàn Đạo càng lên cao.

Trước tình thế nước mất quyền, đạo mất tín ngưỡng, một số nhân sĩ  tríthức trong đạo có Bác sĩ Trương Kế An, Giáo sư Trần Văn Quế đứng đầu thành lập tổ chức chống Pháp đòi độc lập tự do lấy tên là “Liên đoàn Ai Quốc hội”. Tổ chức nầy hoạt động chưa được bao lâu thì đầu năm 1943 đã bị đập tan, các lãnh tụ, hội viên bị bắt giải toà. Các cụ Trần Văn Quế, Trần Văn Tồn, Đoàn Văn Chiêu, Huỳnh Văn Ngà… và cả cụ Đầu Sư Lê Văn Lịch cũng bị bắt nốt, số hội viên thì không kể hết !…

Tất cả các Hướng Đạo, Chức sắc, bổn đạo Cao Đài bị bắt ở Trung hay ở Nam Kỳ, số quan trọng đều bị lưu dày khắp các trại tù Bà Rá, Côn Lôn, Đắc Tô, Trà Khê, Phú Bài, Lao Bảo, Sơn La và cả Madagascar (Châu Phi), số Chức sắc, bổn đạo thường thì giam tại nhà lao ở các tỉnh.

Trước tình cảnh người Đạo Cao Đài lại cũng là người công dân nước Việt đang hồi khổ đau tủi nhục đến cực độ, nhất là số Chức sắc, bổn đạo thuộc Toà Thánh Tây Ninh, họ coi Toà Thánh là Thánh đô của nền Đạo, nay bị chiếm đoạt và hạ nhục, họ coi Phạm Hộ Pháp là bậc Thiên sứ, nay bị tù đày, và họ cũng là những người đang trốn chui trốn nhủi nên càng hận thù chính quyền đô hộ Pháp đến cùng tột. Họ mong làm được cái để lật đổ chế độ thực dân, họ bất chấp đến phương tiện nào !

Trong lúc người Nhật cũng đương âmmưu gây dựng cho mình một hậu thuẫn để tranh giành quyền lợi với Pháp, chụp ngay cơ hội biết được bổn đạo Cao Đài, một lực lượng  quần chúng đông đảo đương bị Pháp đàn áp, nên đương chống Pháp mãnh liệt. Người Nhật tìm cách móc nối với số quí vị Chức sắc Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh ở SG và ở Kim Biên (Cao Miên), trong số đó có GS Trần Quang Vinh, một công chức Pháp vừa nghỉ việc.

Tình thế đẩy đưa, không hẹn mà gặp, hai bên cùng gặp nhau ở một điểm chánh yếu gọi là “lật đổ chính quyền đô hộ Pháp” mà không cần nghĩ gì khác, nhất là phía quí vị Chức sắc Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh.

Thế là ngày 20/12/1942, cuộc gặp gỡ đầu tiên tại SG, phía bổn đạo CĐ Toà Thánh Tây Ninh có một số quí vị Chức sắc, đại diện là GS Trần Quang Vinh, phía bên Nhật Bản có hai Sĩ Quan cấp Đại Tá là Kim-ra và Mochizuki. Đôi bên thoả thuận đặt điều kiện công tác. Nhật Bản hứa bảo đảm những nngười cộng tác với Nhật không để Pháp bắt và v.v…

Để tạo cho lực lựơng hậu thuẫn mạnh mẽ hơn, hấp dẫn hơn, Nhật Bản bèn vận dụng  cho sống lại con bài chót đã úp xuống là Kỳ Ngoại Hầu Cường Đễ đang ở Nhật đã nói ở đoạn trước, nay liên lạc cho Cường Đễ viết thư về nước hiệu triệu đồng bào để thu hút thêm số người yêu nước chống Pháp ngoài bổn đạo Cao Đài. Vì vậy mới có vấn đề Cường Đễ đặt ra.

Dù Nhật Bản đã hứa đủ điều cũng không làm sao đảm bảo nổi một số Chức sắc đạo tâm quá đông, nhất là giới Thanh niên, nên cuối cùng phải bày ra lập Sở Đóng Tàu gỗ cho Nhật bên cầu chữ Y, lấy tên là hãng “Nhật Nam” (Nitinan) chiếm một vùng đất lớn, cất doanh trại để đóng tàu, trong vùng có quân đội Nhật canh gác.

Từ khi có hãng đóng tàu nầy, bao nhiêu người ở ngoài khắp nơi bị nghi ngờ bắt bớ chạy vào đây vừa trốn đựơc Pháp, vừa có công việc làm nuôi sống, nên không riêng cho bổn đạo Toà Thánh, còn có một số người tâm huyết chống  Pháp ngoài Đạo cũng vào đây tỵ nạn.

Hãng tàu gỗ Nhật Nam dung chứa đến hàng ngàn Thanh niên Đạo được yên thân và có điều kiện nghĩ đến cách lật đổ ách đô hộ Pháp, đòi độc lập dân tộc, tự do tôn giáo, đòi lại Toà Thánh, Thánh Thất, đòi lại Phạm Hộ Pháp và các Chức sắc bị tù đày và v.v… bèn tính đến việc tập luyện nghĩa binh chờ ngày nổi dậy. Hoàn cảnh hồi  ấy cố nhiên Huấn luyện viên lo những Sĩ quan Nhật, vũ khí thì là Tầm vông vạt nhọn.

Dầu vậy, bổn đạo Cao Đài các Chi Phái, nhất là bổn đạo Miền Trung không chịu tham gia, đành rằng tất cả đồng tình chủ trương lật đổ ách thống trị Pháp, chống quan lại thối nát triều đình Huế, nhưng còn rất e ngại việc dính dáng vào Nhật Bản, chưa nói là hợp tác, bởi những sự kiện lịch sử sờ sờ diễn ra, như chính sách người Nhật đối với Cao Ly, những điều cụ Phan Tây Hồ nói với cụ Phan Sào Nam và Lương Khải Siêu khuyên cụ Sào Nam lúc ở Nhật, đến việc trong 24 giờ đuổi các người yêu nước Việt Nam ra khỏi đất nước Nhật hồi năm 1908 và mới đây nhất người Nhật giao những người Việt Nam ra hợp tác với Nhật cho Pháp xử lúc Người Nhật mới vào VN năm 1940.

Như vậy,  làm sao dám tin vào  chính sách  người Nhật. Lúc  bấy giờ mặc dầu họ đương hô hào lập “Khu thịnh vượng chung Đại Đông Á”, chưa nói đến việc cần giữ cho khối tôn gíao thuần chơn, không bị lôi kéo vào chính trị, nên toàn bổn đạo các Chi Phái, bổn đạo miền Trung. và môt số bổn đạo Toà Thánh cố nhẫn nhục chịu đựng, dưới sự khủng bố đàn áp của Pháp, chờ một cơ hội thuận tiện khác, không chịu tham gia thân Nhật. Tiêu biểu cho tinh thần ấy có các cụ Nguyễn Ngọc Tương, Gíao Tông phái đạo Bến Tre, cụ Cao Triều Phát, chưởng quản phái Minh Chơn Đạo, cụ NguyễnPhanLong, Tổng Trưởng Liên Hoà Tổng Hội và cụ Cao Hoài sang, Thượng Sanh phái Toà Thánh Tây Ninh đương còn là công chức, là những vị Hướng Đạo được coi là ôn hoà, chính quyền đô hộ Pháp theo dõi ráo riết mà không bắt vơi dụng ý để trấn an nhân tâm.

Lúc bấy giờ, số thanh niên Đạo trốn Pháp ở hãng đóng tàu Nhạt Nam gọi là nghĩa binh thì ngày đêm tập luyẹn và ngày 9/3/1945 đã cùng quân đội Nhật đảo chính Pháp, lật đổ ách thống trị của người Pháp 80 năm trời đè nặng lên cả một dân tộc, tất cả chính trị phạm khắp các nhà lao, các trại lưu đày đều được tự do, trong số đó có các Chức sắc bổn đạo Cao Đài, các Thánh Thất, Thánh Tịnh được mở cửa, Toà Thánh Tây Ninh được trả lại cho giáo hội.

Nhưng sau đó, người Nhật công nhận số nghĩa binh nói trên hình thành một bô đội lấy tên là “Quân đội Cao Đài”, làm cho toàn bổn đạo các Chi Phái Đạo không đồng ý, bởi giáo điều và luật pháp Đạo không cho phép như vậy, dầu quân đội ấy đứng ngoài gíáo hội, huống chi lấy tên Cao Đài là tá danh của Đấng Thượng Đế, danh xưng của nền Đạo dùng  cho  quân đội  lại  càng  sai lầm, chưa nói đến việc trái lại chủ trương của  Giáo hội.

Thế nên,  một số đạo tâm  các  Chi  Phái  và  miền Trung có mặt ở SG vận động thành lập một khối Cao Đài thuần chơn đạo đức, đúng theo chân truyền Đạo pháp, được qúi vị như: Lê Kim Tỵ (phái Tiên Thiên), Cao Triều Phát (Minh Chơn Đạo), Nguyễn Ngọc Tương (phái Bến Tre)… tán thành và cuối cùng tháng 6/1945, một đại hội toàn đạo 11 Chi Phái (không có Toà Thánh Tây Ninh) họp tại Minh Tân (Vĩnh Hội,SG); đồng thời thành lập  một tổ chức lấy tên là: “Cơ Quan Cao Đài Hiệp Nhứt”, bầu quí Đạo Trưởng Cao Triều Phát làm Chủ tịch, Lê Kim Tỵ làm Phó Chủ tịch, Trần Văn Nho làm Tổng Thư Ký, Phan Thanh Trưởng Ban Truyền giáo phụ trách miền Nam,  Thanh Long Phó Ban Truyền giáo phụ trách Trung Bắc.

Tiếp đến Cách Mạng Mùa Thu, Mặt Trận Việt Minh câm  quyền, đầu tháng 9/1945, Cơ Quan Cao Đài Hiệp Nhứt họp khỏan đãi, có đại diẹn Mặi Trận Việt Minh Nam Bộ tham dự và phát hành một thông cáo chung có Chủ tịch Trần Văn Giàu Uỷ Ban Kháng Chiến Hành Chánh Nam Bộ và Chủ tịch Cao Triều Phát Cơ Quan Cao Đài Hiệp Nhứt cùng ký tên. Lúc đó, phía  Quân đội Cao Đài tuyên bố trên báo chí vì quyền lợi Tổ Quốc và Dân Tộc, GS Trần Quang Vinh từ chức, GS Đặng Trung Chữ lên thay, gia nhập vào MT Việt Minh, cả bộ đội đặt dưới quyền điều khiển của Chủ tịch Trần Văn Giàu.

Ngày 23/9/1946, quân Pháp theo quân Anh An mở màn tái xâm lăng Nam Bộ, trước hết chiếm thành phố SG. Chủ tịch Cao Triều Phát đại diện 11 Chi Phái Đạo Cao Đài hô hào toàn đạo làm nghĩa vụ công dân, lên chiến khu bưng biền kháng chiến, chống giặc Pháp xâm lăng, quân đội Cao Đài cũng rút  vào Miền Đông Nam Bộ đánh quân Pháp.

Trước đó, ngày 8/5/1946, GS Trần Quang Vinh và một số Chức sắc Toà Thánh bị Pháp bắt, sau một tuần tra tấn cực hình buộc ông phải kêu gọi các chiến sĩ Cao Đài ngưng bắn với Pháp. Trước thế sống chết không chịu nổi, ông Vinh phải đặt điều kiện: để cho Đạo được tự do, phải trả Hộ Pháp Phạm Công Tắc và các Chức sắc cao cấp của Toà Thánh về nước (lúc bấy giờ lưu đày ở Madagascar), vì Phạm Hộ Pháp mới có đủ thẩm quyền với bổn đạo.

Thế là ngày 2/8/1946, Phạm Hộ Pháp và các Chức sắc Toà Thánh mới được đưa về nươc. Đặt chân trở lại quê nhà thì mọi việc đâu đó mới được an bài. Sau 5 năm bị lưu đày, tình thế nước nhà biết bao thay đổi, Hộ Pháp có hiểu biết gì đâu! Trước sự thế, ông chỉ biết có 2 điều: dồng ý những việc các Chức sắc ở nhà đã làm thì được trở về Toà thánh, bằng không thì trở lại Madagascar. Vấn đề phải có thì giờ để suy tính.

Kết luận như trên, tôi đã khách quan trình bày lại trung thực sự kiện lịch sử diễn tiến, khởi đầu từ một nền đạo mới, phát triển quá mạnh mẽ, bị chính quyền đô hộ Pháp vì sợ mà nghi ngờ, tìm cách ngăn cấm, chụp mũ thân Nhật Bản, Cường Đễ, thân Đức, đến cả Cộng Sản nữa. Ngăn cấm không được, phải dùng đến bắt bớ, đàn áp; càng đàn áp, càng  bị phản ứng, chống đối mạnh, lại bị khủng bố ráo riết. Kết cuộc, đến Chức sắc, bổn đạo bị tù đày, Thánh Thất, Thánh Tịnh bị đóng cửa, Toà Thánh bị chiếm đoạt, tín ngưỡng trầm trọng.

Trước sự thế dồn ép không lối thoát, là người Việt Nam mất nước, một người tín đồ bị cấm đạo, người Cao Đài chỉ còn nhìn thấy một con đường tiến lên, đơn giản là phải lật đổ ách thống trị của người Pháp. Họ bất chấp điều kiện nào, phương tiện nào, miễn đạt được mục đích ấy.

Như vậy, sự liên hệ với Nhật Bản do hòan cảnh đẩy đưa, chỉ cốt chống đỡ lại sự khủng bố ác liệt của người Pháp, đến việc nương vào người Nhật để tập luyện nghĩa binh, cũng là cái thế chẳng đặng đừng, muốn cỡi ách đô hộ của người Pháp. Và việc làm ấy đã rõ ràng do một nhóm Chức sắc bổn đạo thuộc Toà Thánh Tây Ninh. Phải nói đúng sự thật, một việc làm không dự tính trước và cũng không do Hội Thánh chủ trương. Và lúc ấy Hộ Pháp Phạm Công Tắc và các Chức sắc cao cấp Toà Thánh đã bị lưu đày ở Madagascar và ở nhiều nơi trong nước.

Huống nữa, các Chi Phái Đạo Cao Đài (11 phái) bởi hoàn cảnh đặc biệt từ năm 1930, đa tách rời khỏi Toà Thánh Tây Ninh, mỗi phái biệt lập hành đạo, không đặt dưới sự chỉ đạo điều hành của Toà Thánh Tây Ninh. Và các ChiPhái Đạo đã công nhiên đúng trên cương vị một tôn giáo thuần chân, không liên hệ với bất cứ đảng phái chính trị quân sự nào. Đối với Tổ quốc, dân tộc, nghĩa vụ công dân coi là nghĩa vụ thiêng liêng, mọi người Đạo không phân biệt Chức sắc, bổn đạo, đều có bổn phận tích cực phục vụ tuỳ khả năng vị trí của mình, nhưng nkhông được đem chính trị vào Giáo hội. Đó là sự kiện lịch sử giữa thanh thiên bạch nhật, làm sao bảo rằng Đạo Cao Đài thân Nhật, thân Cường Đễ hay thân Đúc được ? Việc liênhệ với Nhật bản của một nhóm Chức sắc bổn đạo Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh đã nói rõ ở trên, càng không thể nói là Đạo Cao Đài thân Nhật, thân Đức hay  thân thế nầy thế khác.

Vấn đề Kỳ Ngoại Hầu Cường Đễ nếu ông có nhập đạo Cao Đài thì cũng được coi như các vị Hoàng thân ngày xưa tin Phật, sùng Nho không hơn không kém. Huống chi ông được cụ Sào Nam đưa sang Nhật năm 1906 và Đạo Cao Đài thì đến năm 1926 mới ra đời thì làm sao ông là người của Đạo được?

Nên luận cứ Cao Đài thân Nhật, thân Cường Đễ chỉ là luận cứ của thực dân Pháp chụp mũ, vu khống để ngăn cấm Đạo Cao Đài. Về sau, phần đông không thấu rõ vấn đề, chỉ nghe và hiểu theo dư luận, hoặ cũng có người hiễu biết được sự thật về đạo Cao Đài, nhưng vốn không thích nền đạo mới ấy về phương diện nầy hay phương diện khác nên vô tình hay dồng tình hiểu theo luận cứ người Pháp đưa ra trước kia!

Lời trình bày trên đây nhằm biện minh sự thật lịch sử sự thật về Đạo Cao Đài, mục đích để mọi nhận hiểu sai lầm không còn nữa.

Xin trân trọng kính chào và cám ơn liệt quí vị.

Lương Vĩnh Thuật

Leave a Reply