Lời hồng thệ đối với chức sắc Cao Đài

Lời hồng thệ đối với chức sắc Cao Đài

(Bài thuyết đạo của Ngài Ngọc Giáo Sư Trương Sư Xuyên tại Trung Hưng Bửu Toà ngày 15/10/Bính Dần – 1986).

Kính thưa……

Để càng ngày chúng ta càng vững tiến trên đường tu học hành đạo trong Chánh pháp Cao Đài, nhân kỳ ôn dưỡng hôm nay, tôi xin phép được cùng với anh chị em thảo luận thêm về lời thề (tức lời Hồng Thệ), vì lời thề rất là quan trọng, nhất la đối với tập thể Chức sắc chúng ta, những người được xếp trong hàng lãnh đạo.

Trước hết, chúng ta sẽ tìm hiểu lời thề là gì? Trong từ Hán Viêt, thề tức là Thệ. Về từ nguyên, ta có mấy từ ghép như sau:

– Minh thệ: Do chữ “minh sơn thệ hải”, nghĩa là thề với núi, hẹn với biển, không dám sai lời. Trai gái yêu nhau, thường chỉ núi và biển để thề hẹn với nhau vẹn giữ tình chung thuỷ.

– Tuyên thệ: Là đọc lời thề ước giữ một qui định nào đó. Nghi lễ tuyên thệ thường được tổ chức trước Quốc kỳ hoặc Đảng kỳ, có khi trước Kinh Thánh hay Kinh Coran. Trong Đạo chúng ta thường đựơc tổ chức trước Thiên Nhãn, hay trước bàn Ngũ Lôi.

– Đoan thệ: Là lời thề có tính cách ngay thẳng, chắc chắn, không dám sai chạy.

– Hồng thệ: Là lời thề lớn, có hình thức long trọng, đông đảo, với tính chất quyết tâm, không hề sai quấy.

Tóm lại, lời thề là lời hứa hẹn, mong mỏi trước Vô vi và Hữu hình để tự mình quyết tâm làm một việc gì sau khi đã nghiền ngẫm suy tính thật kỹ lưỡng.

Phần tiếp theo, chúng ta hãy điểm lại các lời thề xưa nay đã xảy ra trong lịch sử nước ta và thế giới, để thấy rõ tầm quan trọng của từng lời minh thệ. Điều đó sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc ý nghĩa của các lời thề, nhất là lời Hồng Thệ đối với Chức sắc Cao Đài chúng ta.

Đầu tiên , chúng ta hãy nói về chuyện “Đào viên kết nghĩa”. Trong Tam Quốc Chí (Chắc phần lớn anh chị em đã đọc), đã ghi lại việc Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi trước khi làm việc lớn, đã làm lễ tế Trời Đất để kết nghĩa anh em và thề sống thác có nhau. Sau mấy mươi năm chung lưng đấu cật chiến đấu trong gian nguy, ba anh em kết nghĩa vườn đào đã giữ trọn lời thề và được người đời sau ca tụng nghĩa khí. Sự kiện nầy đã gây ấn tượng sâu sắc cho bao nhiêu thế hệ độc giả Á Đông (và cả thế giới) từ trước đến nay. Cho nên, khi nhắc đến Tam Quốc Chí, không ai lại không nhắc đến chuyện “Kết nghĩa đào viên” của Lưu Quan Trương.

Trong lịch sử Phật Giáo, chúng ta cũng không thể quên lời thề của Đức Phật dưới cội Bồ đề. Thái tử Tất Đạt Đa sau 6 năm toạ thiền dưới gốc cây Bồ đề đã có lời đại thệ: “Nếu không chứng ngộ đạo mầu, Ta quyết không rời khỏi nơi nầy”. Do lời thề ấy mà Thái tử Tất Đạt Đa đã trở thành Thích Ca Mâu Ni Phật, gieo truyền ánh sáng đạo mầu, cứu độ chúng sanh trong cõi ta bà thế giới. Đó là lời thề của một Đức Giáo chủ. Quả là quan trọng vô cùng !

Trở lại trong lịch sử nước ta, chúng ta nhớ ngay đến lời thề sông Hát của Tướng Trần Hưng Đạo.Trong
cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lươc, gìanh độc lập tự do cho dân tộc, Đức Trần Hưng Đạo có một lần ra trận, khi qua sông Hát, con voi của Ngài đã bị sa lầy. Dân chúng và quân sĩ đã đem hết sức, dùng hết cách để đỡ voi lên, nhưng con voi quá lớn không thể nào lên được, quân sĩ có phần nao núng, cho là có điềm không lành. Đức Trần liền rút gươm trỏ xuống dòng sông Hát mà thề lớn rằng “Nếu trận nầy không đuổi được quân Nguyên, Ta thề không trở lại sông nầy nữa”. Thề xong, Ngài liền thúc quân ra trận và đã đại thắng quân Nguyên nổi danh là vị anh hùng quán thế trong lịch sử. Từ đó đến nay, mỗi khi nhắc đến những cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, ta không thể không nói tới người anh hùng nổi danh Trần Hưng Đạo với lời thề sông Hát năm xưa.

Thưa anh chị em,

Trên đây là một vài dẫn chứng về lời thề của người xưa đã thực hiện câu “vô nguyện bất thành, vô thệ bất lập”. Là những lương sinh được hân hạnh quì dưới chân Thầy, chúng ta hãy lần lượt ôn lại những lời thề trước Thánh Nhãn hiền từ và trước bàn Ngũ Lôi uy linh như thế nào?

– Trước hết, là lời thề khi bước vào cửa Đạo: “Con tên……họ…… ……tuổi, thề rằng từ đây con biết một đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp cùng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài, nếu sau có lòng hai, thì Thiên tru Địa lục”.

– Khi đọc Kinh Mai vào mỗi buổi sáng, ta đã từng đọc mấy câu:

“Nguyện giữ giới Hạ Thừa khăn khắn,
Dầu chi chi con chẳng sai lời
Nếu con lòng có đổi dời,
Ơn Trên phạt tội kiếp đời tai khiên”.

– Khi đọc lời Hồng Thệ thọ trì tâm pháp, ta đã đọc câu: “Nếu con quên giữ lấy lời
Bội Sư phản Đạo, suốt đời tai ương”.

– Khi đăng đàn Hồng Thệ (ng 9/01/ Kỷ Hợi-1959), tại THBT nguyện làm tròn sứ mạng Trung Hưng, có câu:

“Lòng con như nước tịnh bình,
Hai tay nâng mối Đạo Huỳnh không buông”.

– Khi thọ châu, thọ nhiệm, thọ phong trước bàn thờ Ngũ Lôi, chúng ta đã thề: “Gìn tròn đạo đức, giữ dạ vô tư, lãnh bửu pháp nầy để đưa nhân sanh trong địa phận lên đường giải thoát, chứ không dám dĩ công vi tư. Nếu có sai lời, xin các vị Ngũ Lôi hành phạt”.

Không những chúng ta thệ nguyện, mà chính Đức Chí Tôn ở Thiên Đình cũng còn thệ nguyện với chư Phật Tiên:

“Muôn kiếp các con chịu lạc đường,
Thấy vầy Thầy luống động lòng thương.
Nên đoan thệ với hàng Tiên Phật
Lập Đạo không thành chịu tội ương”.

Đức Mẹ Diêu Trì, linh hồn của tất cả chúng ta cũng đã có lần thề nguyền với con cái của Ngài:

“Không nghe Mẹ cũng không thôi
Độ con không đặng, không hồi cung Diêu”.

Tóm lại, cả Thiên và Nhân đều lập thệ để quyết tâm cứu độ nhân sinh trong Kỳ Ba mạt kiếp nầy. Ôi! Biết bao trọng đại! Càng ôn lại, chúng ta càng khủng khiếp kinh hoàng qua bao lời thề quá nặng. Trong chúng ta, có những ngưỡi đa giữ vẹn lời thề, cũng có người không giữ được vì lý do nầy hoặc lý do khác. Ôi đau đớn biết bao!

Thưa anh chị em,

Trở lại chuyện “đăng đàn hồng thệ” năm xưa tại Hội Thánh, hiện tại có một số người bị mang tiếng là Vọng niệm tha cầu, phản lại lời thề ngày trước vì có ý định bỏ Hội Thánh Trung Hưng đi theo phái khác. Rõ ràng như thế là phản lại sứ mạng Trung Hưng, là mất Trung mất Tín!

Con người ở đời, chưa nói là người tu hành, là Chức sắc Thiên An ở phẩm Thượng thừa, bao giờ cũng phải giữ lòng “Trung Tín”. Nếu bỏ lời thề, trái với sứ mạng quyền pháp, thì làm sao có thể là Trung và Tín được nữa ?

Đã mất Trung mất Tín, lại có lòng chê pháp nầy thiếu, pháp kia đủ, pháp nầy dở, pháp kia hay, hoặc có chút bất bình với Giáo hội (với Hội Thánh), với bạn bè mà đi thọ pháp khác, té ra đem lòng “bất Trung bất Tín” đem cái lòng chê khen, bất bình đó để cầu pháp, cầu đạo, thì làm sao đạt chứng pháp được ?

Đây quả là điều khó nói, nhưng chúng tôi buộc lòng phải bộc bạch cùng anh chị em, để suy nghĩ kỹ mà chúng ta vững một lòng tin vì Thầy vì Đạo, vì Giáo hội Trung Hưng.

Nhớ lại, trong lịch sử truyền Đạo miền Trung trước đây, ta thấy rõ lời thề là một pháp môn tận độ. Nhờ có lời thề, tự chúngg ta hằng lo tiến bước trên đường Đạo Pháp. Và các nĐấng Thiêng Liêng đã chứng giám lời thề, cũng hằng gìn giữ chúng ta khỏi phạm lời thề.

Đơn cử một việc đã qua, để chúng ta noi gương tu học: Vào năm Giáp Tuất (1934)-Đại Đạo thứ 9, Tứ Linh Đồng Tử (Long, Lân, Qui, Phụng) do Đạo Huynh GS Trần Công Ban hướng dẫn, vâng lệnh Ơn Trên để Khai Đạo miền Trung. Trong buổi ban đầu, việc mở Đạo thật rất khó khăn nhưng cũng rất nhiều ân huệ. Ơn Trên cho nhiều huyền diệu. Theo lời kể của Ngài Bảo Pháp Thanh Long, thì lời thề đã được chứng minh một cách rõ ràng:

– Nhờ giữ vẹn lời thề, gia đình Đồng Tử Bạch Phụng đều được siêu thăng tịnh độ sau khi thế thường cho là lâm nạn:

“Phước nhà em ai mà có hãn,
Bảy bà con tuyệt mạng vong thân.
Kim Qui còn ở lại trần,
Tam ca: Chơn Thánh, Tiểu Thần: tứ ca……”

– Trường hợp không giữ vẹn lời thề như Đồng Tử Kim Qui chỉ vì không giữ trọn trường trai trong khi đau ốm mà phải bị:

“Tái sinh Yên Bái Bắc Kỳ Lý Gia……”

Thế thì chúng ta phải tin chắc rằng: Hễ giữ vẹn lời thề thì được siêu thăng, còn không giữ được lời thề thì phải bị đoạ lạc.

– Vậy anh chị em chúng ta phải làm thế nào để khỏi phạm lời thề ?

Thiết tưởng chúng ta khỏi bàn thảo về câu hỏi: “Vì sao phải có lời thề?”. Chúng ta chỉ cần suy gẫm và giải đáp đại lược về phương cách: “Làm thế nào để khỏi phạm lời thề?”.

Phụng thờ Chánh pháp Cao Đài qua bao lý tưởng cao siêu, mục tiêu vĩ đại, tôn chỉ dung thông, tổ chức tân kỳ……. y theo Pháp Chánh Truyền, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Tân luật…… Tuy hiện nay cơ đạo chưa hoàn thành chương trình cứu độ Kỳ Ba. Nhưng từ khi khai đạo đến nay, trải bao thử thách cam go, kẻ khuất người còn, chúng ta đã nhờ lời thề mà đưa cơ đạo được hoá hoằng như ngày nay. Nhờ công phu công quả của toàn đạo xây đắp về hữu tướng cũng như vô tướng dưới sự hướng dẫn của Đức Chí Tôn, ở khắp mọi lúc mọi nơi, chúng ta đã đặt được nền móng vững chắc cho tiền đồ của Đại Đạo. Thật đáng mừng thay !

Nhưng đi sâu vào chi tiết thì mỗi chúng ta chưa làm trọn lời thề. Chúng ta còn nhiều vấp phạm quyền pháp Giáo hội: Nhân đạo chưa tròn, Thiên đạo chưa xong, qui giới chưa tinh nghiêm, đức tin còn điên đảo. Lòng phàm nổi dậy theo sự dụ dỗ của lục dục thất tình. Hạnh đức chưa viên minh, gây nhiều ảo vọng, có tác hại cho Chánh pháp Kỳ Ba.

Riêng chúng ta phạm lời thề sẽ bị sa đoạ cũng đáng kể mà cả mọi người chung quanh cũng bị ảnh hưởng. Chính Đức Chí Tôn đã dạy:

“Nạn tai Thầy giảm tám phần,
Còn hai để phạt con trần ngổn ngang……
…….Chiếu theo Hồng Thệ con đây,
Hai phần hiệp tám thì nay còn mười”.

Bệnh tình đã ro, thầy thuốc đã cho toa. Chỉ có bệnh nhân chúng ta có chịu điều dưỡng hay không mà thôi! Chưa cần đến “hồi dương sinh mạch” mà trong lúc nầy tưởng nên theo phương thang “bổ trung ích khí”. Thánh huấn của Ơn Trên trong mấy mươi năm trường dạy khuyên chúng ta rất nhiều, nhưng hiện nay chúng ta hãy ôn lại Thánh lịnh của Đức Lý Giáo Tông đã vạch cho chúng ta một chương trình tu tiến : “Thuần tuý đạo đức, duy nhứt tinh thần, bảo tồn quyền pháp”.

– Trước hết ta sẽ thảo luân về vấn đề “thuần tuý đạo đức”. Đúng ra, Đạo là Đạo, Đức là Đức. Đã là đạo đức thì không cần phải nói thuần tuý. Nhưng vì hoàn cảnh thế giới hiện nay, tinh thần tôn giáo có nơi lại ô nhiễm chính trị. Có người lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị, mượn Đạo để tạo Đời. Giữa quyền Đạo và quyền Đời không phân biệt rõ ràng. Hai bên đánh nhau để giành Thánh địa. Đã chiến tranh thì không làm sao gọi là Thánh chiến được? Bởi những hiện tượng nầy mà có người cho tôn giáo là thuốc độc, hay tôn giáo làm cản trở bước tiến của nhân loại. Ôi! Thật là đau khổ!

Thật ra, tôn giáo nào lúc ban sơ cũng có mục đích cứu đời bằng sự thương người yêu vật, lấy tình thương xoá bỏ hận thù, dìu dắt con người làm lành lánh dữ, tạo cảnh thiên đàng cực lạc tại thế gian. Người làm sai chứ Đạo không bao giờ sai.

Vì vậy, người Cao Đài chúng ta phải:

– Tuyệt đối giữ y Chánh pháp chơn truyền của Đại Đạo.
– Tuỵệt đối thanh tịnh trong tư tưởng cũng như trong ngôn ngữ hành độngtheo luật lệ Giáo hội.
– Tổ chức Giáo hội không phải là nơi hoạt động chính trị. Không thể biến cơ sở Giáo hội thành nơi tổ chức hoạt động chính tri, có phương hại đến nền an ninh của dân tộc.

Nhưng chúng ta luôn luôn nhớ rằng: Người Cao Đài cũng như các công dân khác, phải tích cực tham gia xây dựng đất nước, làm tròn nghĩa vụ đối với dân tộc và tổ quốc.

Tiêu đề “Thuần chân vô ngã” là một khẩu hiệu nằm lòng mà chúng ta phải thực thi đúng mức để cứu vãn danh nghĩa tôn giáo nói chung và Cao Đài giáo nói riêng khỏi bị lệch lạc lu mờ.

– Tiếp theo ta sẽ thảo luận về vấn đề “duy nhứt tinh thần”. Thật ra anh chị em cũng thấy đó: Nội tình của Cao Đài giáo hiện nay chưa đựơc duy nhất, vì còn nhiều hệ phái khác nhau, bởi ý người làm sai ý Trời. Ai cũng hô hào hiệp nhất, thống nhất, mà nói hiệp nhất, thống nhất, lại càng đi xa chánh pháp lúc đầu khai đạo. Vì từ lâu , bản ngã của người làm chủ mỗi nơi lại tự cho mình là giữ y Chơn truyền đạo pháp của Thầy. Giữa tâm truyền và công truyền chưa gặp nhau. Còn nhiều người bàn luận pháp môn nầy cao, pháp môn kia thấp, cách tu nầy đúng, cách tu kia sai…… Cuối cùng cũng chưa đi tới đâu cả! Điều đó làm cho nhân sanh phân vân, hoang mang không ít.

Thật ra, Đạo chỉ có một. Tất cả là một. Vạn giáo còn nhứt lý, tại sao Cao Đài chúng ta còn nhị hoặc tam tứ lý? Tại sao chúng ta không chỉ có một tinh thần vì Đạo vì Thầy lại còn chia rẽ và rẽ chia? Thật là nguy hại cho tiền đồ Đại Đạo! Nhất là Hội Thánh ta đã thọ lãnh sứ mạng Trung Hưng Chánh pháp. Thử soát xét lại chúng ta đã Trung nhất và đã Phục hưng được những gì rồi? Thuyền đã ra khơi , xe đã rồ máy, mà tài công còn bàn qua cãi lại nên đi hướng nào thì trở ngại biết bao! Chưa nói đến những tai biến bất ngờ, nào sóng to gió lớn, nào đường sá gồ ghề. Ôi! Chúng ta thật đắc tội với Chí Tôn, với nhân sinh nhiều lắm!
Nói cách khác, tiêu đề “vạn giáo nhất lý”, phải được chúng ta tôn thờ và thi hành đúng mức.
– Cuối cùng là vấn đề “bảo tồn quyền pháp”. Nhưng quyền pháp là gì? Ta cần phải thảo luận một cách nghiêm túc để hiểu một cách sâu sắc và rõ ràng:

“Quyền là sự thương yêu, Pháp là lẽ hằng sống”. Sự thương yêu và lẽ hằng sống là tinh hoa của Đạo Cao Đài. Trong thương yêu có hằng sống, trong hằng sống có thương yêu. Quyền và Pháp có đi đôi thì cơ cứu chuộc mới được trọn vẹn. Đời mạt kiếp đã đi lần đến chỗ tiêu diệt, Thượng Đế từ bi lân mẫn đem đến cho nhân loại sự thương yêu và lẽ hằng sống. Chánh Pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã thị hiện tại thế gian. Chánh pháp ấy có nhiều pháp môn phương tiện, nhưng chung qui ở trong hai danh từ Thương Yêu và Hằng Sống.

Chính Đức Chí Tôn đã dạy:

“Chẳng phải dồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Đạo tức một Cha
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi
Dạy lẫn cho nhau một chữ Hoà”.
(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)

Chúng ta, những người thay mặt cho Thầy để hoá hoằng Chánh pháp, dìu dắt chúng sanh, phải chung thuỷ, phải hy sinh, phải quyết tâm giữ vẹn hai chữ Pháp Quyền. Có giữ vững được Còi (Pháp) và Gậy (Quyền) mà Thầy đã giao thì mới mong làm tròn nhiệmvụ Thiêng Liêng cứu mình độ người được.
Tiêu đề “Thiên nhân hiệp nhất” chúng ta phải luôn luôn y hành bất cứ ở hoàn cảnh hay trường hợp nào.

Kính thưa quí vị,
Thưa anh chị em,

Viết không hết lẽ, nói chẳng hết lời. Chúng ta chỉ hằng cầu nguyện và thanh tịnh để giác ngộ đạo mầu. Nhất là từ ngày vào Đạo đến nay, chúng ta đã hứa, đã thề những gì, phải ôn kỹ lại và phải làm sao giữ vẹn lời thề, để đến khi về chầu Thầy, chúng ta khỏi có điều gì ân hận, hối tiếc.

Để kết thúc bài nói chuyện hôm nay, chúng tôi xin phép được trích lời chỉ dạy của Đức Bảo Pháp Chơn Quân tức Ngài Thanh Long Lương Vĩnh Thuật trong đàn cơ ngày 28/12/ Nhâm Tuất (ĐĐ.57 – 1982) tại THBT, để góp phần cho niềm tin và ý chí chúng ta trong việc giữ trọn lời thề:

“Lấy công quả đền bù nợ trước
Mượn công phu chế ước lòng tà.
Để rồi tự giác giác tha,
Song hành phước huệ, mới là viên thông”.
Trân trọng cám ơn, kính chào liệt quí vị và anh chị em.

Trương Sư Xuyên

Leave a Reply