Quá trình truyền đạo tại Quảng Ngãi

Quá trình truyền đạo tại Quảng Ngãi

Sự truyền đạo của các nhà Hướng Đạo Quảng Ngãi song hành với việc thành lập các Thánh Thất. Ngoài những chức sắc các CPĐ Miền Nam (như Bến Tre, Tây Ninh) ra truyền bá rầm rộ. Về phía Cầu Kho thì phải kể những người tại địa phương là những bậc Hướng Đạo tiên phong và kỳ cựu nhất.

1- Những vị Hướng Đạo đầu tiên (1935-1945):

Đứng đầu danh sách nầy có các cụ Nguyễn Tiên, Nguyễn Khiết, Trần Hào ở MĐ, có công đem mối đạo CK về truyền bá đầu tiên tại Hoaì An từ năm A Hợi (1935). Tiếp theo là các cụ L Th Công, T Nhiều tại Sa Huỳnh gặp Đạo ở Tam Quang đem về lập Thánh Thất Phổ Thạnh và Viễn Thuý. Sau đó là các cụ Phó Sử, Chủ Cống, Chủ Ngại với TT Sông Vệ, cụ Ch Trân, Ng Chúc với TT Ng Lập, cụ Xã Hoài với TT B Đề, cụ L Q Viện, L Đức, Ph Quyệt, Tr Lạc với TT Tr Hoà, cụ Tr Duyên với TT Ng Hưng, cụ Ng Kỉnh, Ng Hiệu với TT A Thành, cụ H Thảo với TT H Đức, cụ Ng Nghệ, Ng Dương với TT M Sơn……

Trong thời gian 10 năm (1935-1945), khắp các địa phương trong tỉnh QNg, các TT/CĐ mọc lên như nấm. Phải nói là một thời kỳ rầm rộ, sôi nổi chưa từng có, một mối đạo mới được nhân dân tiếp nhận một cách nồng nhiệt, phấn khởi. Đâu đâu cũng có bóng dáng các HĐ/CĐ và đâu đâu cũng thấy các tín đồ CĐ tấp nập sinh hoạt lễ bái ở những nơi tín ngưỡng.

2- Cơ Đạo bị khủng bố (1939-1945):

Từ khi gặp Đạo, các vị Hướng Đạo đã lao vào công cuộc truyền đạo và hy sinh cho một nền đạo mới với tất cả công sức, tiền tài và nhân mạng. Trong 5 năm đầu, công cuộc truyền đạo rất suôn sẻ thông suốt. Mặc dù có đạo dụ số 10 của Bảo Đại ban hành từ năm 1928: “Cao Đài thư tịch bất đắc truyền bá TK”, nhưng tại Quảng Ngãi, phong trào Cao Đài rất mạnh, vì phần lớn các Hương chức, Chánh Phó tổng, Chủ làng và giới Trí thức đều là những người nhập môn trước tiên và đi đầu trong công cuộc truyền đạo. Cho nên, mối đạo mới Cao Đài đi đến đâu được nhân dân hưởng ứng đến đó. Nhiều nơi xin nhập môn tập thể (như các trường học tại Đức Phú) khiến các quan chức Nam triều đâm ra lo lắng.

Công cuộc truyền bá Đạo Cao Đài tại Quảng Ngãi đang trên đà phát triển mạnh mẽ thì bắt đầu gặp khó khăn do những biến chuyển của tình hình thế giới trong trận Thế chiến thứ 2 đang ảnh hưởng nặng nề đến vùng ĐNÁ và nhất là tại Đông Dương với sự tranh chấp giữa thực dân Pháp và phát xít Nhật. Riêng tình hình Việt Nam lúc bấy giờ đang có sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái, làm ảnh hưởng sự truyền bá của Đạo Cao Đài.

Từ khoảng năm 1940, nhóm ông P Nghị, L Đ Luân ở TQ lại tiếp tay với ông Ng H Hào và Tr Q Vinh ở TN tổ chức ĐL Bảo hiểm. Đây là một tổ chức bí mật thân Nh, chiêu mộ thanh niên, lập nghĩa binh, đóng tàu cho Nh, âm mưu làm nội ứng để chống Ph. Tay chân của Ph Nghị đã ra tại QNg để vận động, có một số rất ít tín hữu CĐ thiếu thuần tuý đã tham gia bí mật.

Cùng lúc đó, tại Miền Nam , các Chức Sắc thuộc phái đạo Cầu Kho và LHTH bị Pháp bắt vì sự tranh chấp chính trị. Vì cả hai vụ nầy mà hầu hết các Hướng Đạo Cao Đài tại Miền Trung cũng bị liên luỵ và bị Pháp bắt giam. Sự truyền đạo bắt đầu bị cấm đóan, khó khăn, bổn đạo bị khủng bố.

Tại các trại tù Lao Bảo, Sơn La, Đ Tô, B Rá, T Khê… các Hướng Đạo Cao Đài tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và các nhà chính trị, cách mạng được gặp nhau, được trao đổi về tôn chỉ, mục đích và đường lôí của mình.

Trong khi các Hướng Đạo bị bắt, ở nhà bổn đạo vẫ tiếp tục sinh hoạt tín ngưỡng ở mức độ bình thường.

Cụ Tr Nhiều, chủ tự TT SHh bị tù chết tại nhà lao Quảng Ngãi (1943), chôn ở núi TBút, trong thời Pháp thuộc.

3- Cơ Đạo phục hưng rồi lại bế tắc (1945):

Mãi đến tháng 3/1945, Nh đảo chính Ph, các tù chính trị kêu gọi các tù tôn giáo hợp tác với nhau để lo việc khởi nghĩa chống Ph Nh, nhưng quí HĐ không đồng tình vì muốn giữ tinh thần thuần tuý tôn giáo chân tu không tham gia chính trị. Lúc bấy giờ họ tự phá ngục và ra về, ai lo phần nấy.

Sau khi ra tù, các HĐ chủ chốt lo liên lạc với các Chức Sắc Hội Thánh tại Quảng Nam (nhờ trước đó đã gặp nhau và biết nhau trong tù), về lo việc phục hưng cơ đạo. Lúc nầy cơ đạo tại QNg lại phát triển ồ ạt như nước vỡ bờ và phấn khởi trước sự thất bại đột ngột của Thực Dân Pháp, và các Hướng Đạo đã được tự do truyền Đạo.

Đến giữa tháng 6/A Dậu (1945), thể theo lời mời của các HĐ QNg, phái đoàn HT gồm các Ngài Hh Ng Trác, Ng Đán, Ng Tr Cán, Ng V Minh, Tr Th Thức, Tr Th Cơ, Ng T Lan (chị ruột của LS Ng Q Tín), cô T Th Sang (đệ tử của Đức NCP.TĐQ) và B L Nh được Thánh lệnh vào QNg tham dự lễ phục hưng Cơ Đ tại các TT. Đầu tiên tổ chức đại hội tại TT Sg Vệ ngày 15/6/A Dậu (1945), do Ngài Hh Ng Trác chủ tọa. ĐH thành lập Ban TĐ lâm thời QNg, cụL Đức được cử làm ĐTĐ đầu tiên. Cụ L Đức, người xã Đ Tân, huyện MĐ, QNg, bị giết tại NgH ngày 10/7/A Dậu (1945). Phần mộ được cải táng về quê nhà, sau năm 1975 cải táng lần 2 về NT của Xã và gia đình xây mộ năm 1998.

Ngày 23/6/A Dậu, phái đoàn đến dự lễ phục hưng tại TT B Thiện, giờ Tý an vị xong, Thánh Tượng Th Nh tự nhiên bị ngã, điềm bất an nầy làm mọi người ái ngại. Đến ngày 1/7/A Dậu, phái đoàn đến tổ chức lễ phục hưng tại TT M Long , sau khi thượng phướn giờ Dậu ngày 30/6, dây phướn lại đứt làm rớt lá phướn. Thêm một điềm bất tường nữa khiến bổn đạo lo âu!

Ngày 6/7/A Dậu, Thánh lệnh triệu hôì Ngài Ng Đán, Ng Tr Cán, Tr Th Cơ và Th Sang về QN. Ba vị vừa xuống cửa biển Sa Kỳ trong đêm thì nghe khởi nghĩa trong đất liền, hôm hôm đó là ngày 13/8/1945.

Ngày 7/7/A Dậu, phái đoàn HT lên M Sơn cùng với các CS trong BTĐ và TT Sg Vệ để ngày 8/7/A Dậu tổ chức lễ công khai và phục hưng TT. Nhưng sáng ngày 8/7 thì toàn bộ phái đoàn gồm các CS/HT, TĐ và TT địa phương đều bị bắt và qua ngày 10/7 thì bị giết hết thảy. Đây là một trang sử bi tráng nhất trong lịch sử truyền ĐCĐ tại M Trung.

Một số TT khác chưa kịp công khai hoặc làm lễ phục hưng đều bị tan rã và tiêu mòn. Từ đây cơ đạo bị bế tắc, vì bổn đạo bị khủng bố dữ dội và không còn những vị HĐ cốt cán nào cả.

4- Cơ đạo phục hồi sau khi được Nhà Nước công nhận (1946-1947):

Sau trận khủng bố nầy, đến giữa năm 1946, HT cử phái đoàn đại diện ra HN can thiệp với chính phủ VNDC CH và phối hợp với Ngài PS Phùng Văn Thới (thuộc PĐ BT đang công tác tại TT/HN) thành lập CQTGTBB. Nhờ sự can thiệp nầy mà cụ Tôn Đức Thắng, CT QH đã gơỉ Quốc thư 30/QH ngày 7/11/1946 cho HT công nhận ĐCĐ có tinh thần yêu nước và được tự do hoạt động như các Đạo khác.

Phần mộ cụ Lê Đức (Đầu Tỉnh Đạo Quảng Ngãi đầu tiên-1945) được cải táng lần 2 tại Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi ( năm 1998).

Phần mộ cụ Lê Đức (Đầu Tỉnh Đạo Quảng Ngãi đầu tiên-1945) được cải táng lần 2 tại Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi ( năm 1998).

Mùa thu năm 1946, cụ Tr Lạc đi Sa Huỳnh gặp cụ Lâm Thành Công và đi TQ gặp cụ Hồ Kiên để liên lạc và trao đổi về tình hình đạo sự. Khi về đến QNg thì gặp cụ Tr Đậu (tức Xã Khệnh, người ở Lg Phụng, MĐ, thuộc TT Bồ Đề) mới đi PY cũng vừa về. Hai cụ bèn rủ đi QN vào th.11/B Tuất (1946). Đầu tiên, đến TT Hg Đông gặp và trao đổi tin tức với quí HĐ.HT, lãnh một số Châu tri và QT 30 đem về phổ biến tại quê nhà và đem vào BĐ. Lần thứ 2 nầy, cụ Tr Đậu đi TQ (gặp cụ H Kiên), PC (gặp cụ H Thanh), xong thì đi luôn vào PY gặp cụ Ng K Trường, Ng Nh Tân để thông báo tin tức. Trước đó, quí vị HĐ.PY đã đi SG để liên hệ vơí CQCĐTN, nhưng gặp trận bão lớn không đi được đành phải trở về. Và sau đó lại ra QN, nghe tin có phái đoàn HT đã đi HN can thiệp và thành lập CQTGTBB, quí cụ bèn ở lại thảo luận vơi quí HĐ/QN về việc kết hợp CĐ/PY về với CQTGTBB.

Sau khi Quốc thư 30/QH được phổ biến trên toàn quốc, cơ đạo các nơi nói chung và QNg nói riêng có phần thoải mái và được sinh hoạt trở lại bình thường.

Đầu năm Đ Hợi (1947), toàn thể các gia đình tử đạo tại QNg đều đệ đơn lên chính phủ kêu oan và khiếu nại về tình trạng cấm đạo và giết đạo ở địa phương. Ngày 14/7/Đ Hợi, CT Tỉnh QNg Ng C Phương xuống tại TT Sg Vệ cho dẹp muối và giải toả TT. Ngày hôm sau, rằm/7 TT được mở cửa lại và tổ chức ĐH làm lễ phục hưng do cụ H Thảo chủ trì. Lần lượt các TT khác cũng được mở cửa để sinh hoạt tín ngưỡng trở lại. Sau đó một tháng thì TTg Ph V Đồng có về tại Tỉnh Đường QNg và giải quyết các đơn khiếu nại của bổn đạo. Trong dịp nầy, bổn đạo (phần lớn là các quả phụ) mang khăn tang áo chế đội đơn tới tấp kêu cứu đã được TTg Ph V Đồng nhận hàng ngàn lá đơn, rồi trấn an và giải thích.

Từ đó, cơ đạo lại được phục hồi và phát triển. Tinh thần bổn đạo lại lên cao và nô nức lo xây dựng lại cơ sở tín ngưỡng một cách tích cực.

5- Cơ đạo lại bị khủng bố sau khi tham gia Cơ Quan Truyền Giáo Trung Bộ (1947-1954):

Cuối năm 1947, TĐ đã mời Ngài Ng Q Châu (lúc bấy giờ là PCT CQTGTBB) vào chủ toạ cuộc họp bổn đạo tại nhà ông Đ N Dũng (là CS của TT Tam Hoà -BT- đã sáp nhập với TrG), cử cụ Tr Duyên làm ĐTĐ QNg thay thế cụ L Đức đã tử đạo năm 1945, ông Đ N Dũng làm TK. Cùng cộng tác trong BTĐ có các cụ Ng Bá, H Thảo, H Nuôi (là người QN tản cư vào) rất đắc lực.
Đến ngày mồng 9/giêng /M Tý (1948), phái đoàn các HĐ QNg, gồm các cụ Tr Duyên, Tr Lạc, Tr Đậu, H Thảo…… đã tham dự cuộc họp các nhà HĐ N-Ng-B-P do CQTG/ TBB triệu tập tại TT T An (QN) để thành lập CQTG TB, vì lúc bấy giờ chiến tranh V-P đang hồi ác liệt, cơ đạo MT không thể liên lạc được cả MB lẫn MN. Giai đoạn nầy việc hành đạo thật khó khăn, vất vả, nhưng tinh thần bổn đạo lại lên cao.
Sau đó, HT cử GHPT Ng C Long (Ng M Đạo) vào mở các khoá học tập giáo lý cho bổn đạo khắp các TT trong thời gian hơn nửa năm, đồng thời làm cố vấn cho vị ĐTĐ.

Vơí đà nầy, cơ đạo phát triển rất tốt đẹp, nhưng đến nửa năm K Sửu (1949) thì lại bị khủng bố đàn áp trở lại vì những hiểu lầm. Các TT bị đóng cửa và những cuộc hội họp tín ngưỡng đều bị cấm ngặt. Các HĐ bị bắt gần hết như: Trần Lạc, Trần Duyên, Trần Tuyến, Đỗ Như Dũng, Lê Tụ, Nguyễn Tấn Đạt, Nguyễn Bá, Nguyễn Dũng, Lê Minh Châu, Nguyễn Chơn Long, Cô Cảnh (Tr T Ngưu-vợ cụ Ch Trân), Tr T Kim (dâu cụ Ch Trân)…… bị bắt giam tại trại MĐ và NgH. Sau đó, những người nhỏ tuổi được tha và các HĐ bị đưa ra Toà án QS/ LK 5 ở Bồng Sơn (BĐ) vào cuối năm 1949. Các HĐ các tỉnh 22 người đã bị án từ 1 đến 10 năm và đưa đi giam ở nhà lao An Ba (NgH), còn một số được miễn nghị, miễn tố. Riêng ở QNg không có người nào bị án tù.

Từ đây trở đi, cơ đạo gần như bế tắc lần nữa. Nhiều người đã bỏ Đạo thôi tu, bổn đạo lần lượt tản mác và sự sinh hoạt tín ngưỡng chìm vào im lặng. Một số TT bị bỏ hoang phế vì đóng cửa, nhưng phần lớn vẫn âm thầm giữ Đạo thờ Thầy, chờ ngày phục hưng.

6- Sự hồi phục sau Hiệp Định Genève 1954 (1954-1956):

Mãi đến tháng 7/1954, HĐ Genève vãn hồi hoà bình trên cả 2 miền đất nước, bổn đạo khắp nới mới được vui mừng, sinh hoạt Đạo trở lại rầm rộ. Tháng 10/1954, các TT đều tổ chức lễ đón mừng quí HĐ trở về và lo tái thiết cơ sở. Mở đầu là lễ đón tiếp long trọng tại TT H An (QN). PT nhập môn ồ ạt, cơ đạo lại phát triển tưng bừng, nơi thờ tự, tín ngưỡng, được tu sữa khang trang.

ghtranduyen

Quyền Ngọc Giáo Hữu Trần Duyên (1910-1986), Đầu Tỉnh Đạo Quảng Ngãi (1947-1949).

Thượng Giáo Hữu Trần Lạc (1902-1967), người có công lớn trong việc xây dựng Thánh Thất Trung Hoà, là vị Đầu Họ Đạo đầu tiên của Thánh Thất nầy.

Thượng Giáo Hữu Trần Lạc (1902-1967), người có công lớn trong việc xây dựng Thánh Thất Trung Hoà, là vị Đầu Họ Đạo đầu tiên của Thánh Thất nầy.

Nhiều TT cũ đã mất, nhưng nhiều TT mới khác lại được xây cất thêm để đáp ứng cho nhu cầu tu học của bổn đạo.

Trước sự bành trướng của cơ đạo MT và được Ơn Trên cho phép, quí CS/HT đã họp và đi đến quyết định cần phải xây cất một cơ sở qui mô và một Cơ Quan lãnh đạo Trung Ương để hướng dẫn bổn đạo, đồng thời kiến thiết một ngôi Linh Tháp để kỷ niệm Chư Thánh Tử ĐạoMT nói chung và QNg nói riêng.
Vì thế, vào cuối năm A Mùi (1955), khâm tuân Thánh lệnh, HT đã cư cụ Hồ Tân Sinh và quí CS bộ phận HTĐ vào QNg tìm đất tại xã TưDuy, quận Tư Nghĩa va vận động công quả xây dựng LT. Tiếp theo, HT cử các phái đoàn gồm quí HĐ: Ng Trg Hậu, Tr Cư, Hh Q Tuyến, Tr T Cơ, Ph Hg Hòe…… vào Qngãi để viếng an và liên tục mở các khóa học để củng co và chỉnh đốn hàng ngũ CS và nhân sinh các TT trong đợt KCGP. Trong đợt nầy, một cuộc ĐH tại QNg đã được tổ chức trọng thể dưới quyền chủ tọa của quí CS/HT va cử cụ V Qg Trân làm ĐTĐ (thay thế cụ Tr Duyên đã nghỉ từ năm cơ đạo bế tắc 1949), cụ L Qg Sách làm ĐPV. Các C Sắc được chia nhau đi khắp nơi, xuống cơ sở nhân sanh để thiết lập danh sách chư tín hữu tử đạo vừa qua, gởi trình HT cầu truy phong.

Dịp nầy toàn thể bổn đạo tại QNg đều dốc lòng chung sức để xây dựng ĐT và LT một cách nhộn nhịp, tích cực ……

Trải qua hơn nửa năm kiến thiết với tất cả lòng tín thành và sùng mộ của toàn thể bổn đạo MT nói chung và QNg nói riêng, lễ khánh thành THBT tại ĐN ngày 1/6 và LT tại QNg ngày 2/6/B Thân (1956) được tổ chức vô cùng trọng thể, có đông đủ đại biểu ĐĐ, trong và ngoài nước tham dự. Từ đây, VP/TĐQNg làm việc tại LT với những cơ sở thờ tự đơn sơ, nhưng không kém phần tôn kính, nghiêm trang.

7- Thời kỳ ổn định và phát triển (1956-1965):

Sau khi cơ đạo được phục hồi với sự hình hiện ngôi LT và V/P TĐ mới được thiết lập, tình hình nhân sự càng được củng cố. Hàng ngũ bổn đạo càng được phát triển và chỉnh đốn có qui củ. Các cơ sở Nhà Thánh các nơi cũng được sửa sang, tu bổ và kiến thiết ngày càng khang trang đẹp đẽ. Cơ Đạo không những phát triển về số lượng cơ sở và tín đồ mà về tinh thần tu tiến cũng được chắc lọc.

Trước sự phát triển lớn mạnh đó, đến đầu năm K Hợi (1959), HT phải bổ nhiệm Thái GS M Diệu (GS Thái Ph Thanh), CQ/CQ/PThiện HT kiêm ĐTĐ QNg, cụ V Qg Trân làm ĐPV, có L Qg Sách làm TK phụ tá. Về ngành M Tra, HT đã đưa LSự Đg V Nhâm vào phụ trách. Sau đó, S Tải Tr Th Cẩn vào thay thế một thời gian (LS.Đ V Nhâm được Thiên phong T C Quân và điều trở về HT). (Cần mở một dấu ngoặt chỗ nầy, là trước khi đưa GS Thái Ph Thanh làm ĐTĐ, HT đã đưa GH Thg Lý Thanh (Cửu Hiền) vô QNg. thời gian mấy tháng). Liền sau khi Thái GS M Th Phẩm thọ nhậm ĐTĐ, HT lại điều động thêm 2 vị CS QN vào hành đạo tại QNg: Q.GH Tg Ph Hậu làm ĐHĐ.TT Sg Vệ và Q.GH L Thiên làm ĐHĐ.TT Trg Hoà. Đồng thời thuyên chuyển cụ Tr Lạc ra trấn nhậm hai TT M Long và Trg Thiện. Trong thời kỳ chiến tranh V-M ácliệt (1965-1968), cụ TLạc đã không giữ nổi hai TT nầy, nên đã về lại TT Tr Hoà thay thế cho QGH L Thiên mãi cho đến ngày qui vị (năm Đ Mùi-1967).

Giáo Hữu Võ Quang Trân (1888-1964), Đầu Tỉnh Đạo Quảng Ngãi (1956 – 1959).

Giáo Hữu Võ Quang Trân (1888-1964), Đầu Tỉnh Đạo Quảng Ngãi (1956 – 1959).

Linh Tháp – Đài Kỷ Niệm 2791 Thánh Tử Đạo Miền Trung, xây cất tại xã Tư Duy, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi, khánh thành ngày 2/6/Bính Thân (1956).

Linh Tháp – Đài Kỷ Niệm 2791 Thánh Tử Đạo Miền Trung, xây cất tại xã Tư Duy, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi, khánh thành ngày 2/6/Bính Thân (1956).

Trong thời gian sau 1954, tại QNg, các phái đạo BT và TN cũng đua nhau phát triển tín đồ và cơ sở một cách rầm rộ. Về phía HTTGCĐ, bổn đạo đã có một niềm tin vững vàng về tiền đồ GH và chính xương máu của các bậc cha anh đã nung nấu chí tiến thủ của nhân sanh.

Thời cụ GS Mai Diệu làm ĐTĐ, đã thực hiện hai công tác lớn cần được ghi lại:

– Tổ chức lễ xuất gia cho 5 NTS rất lớn tại QNg có ảnh hưởng đến địa phương. Trong các buổi lễ đều có thuyết đạo mời các cấp Chính quyền địa phương (Quận, Xã). Đó là thời gian HT tổ chức NĐGT và thành lập các Tu Xá.

– Tổ chức khoá Giáo sĩ cấp I (thời gian 1 tháng) tại V/P TĐ (LT) khoảng bốn năm mươi người: Sinh viên khóa nầy hiện nay có vị đã là LS, GH, với cụ Sĩ Tải Đặng Ngọc Dương làm Trưởng Ban Hướng Dẫn. Sau khi bế mạc khóa học nầy, Ban Hướng Dẫn đã tổ chức thuyết đạo một đêm tại L Sơn.

Lòng tin Thầy giữ Đạo của bổn đạo chẳng hề lung lay nhưng trong tâm tư một số người đã dấy lên ít nhiều nỗi bất bình đối với HT vì những cái nhìn không sâu sát và thiếu vô tư của một số Hướng Lãnh tại QN. Lại thêm vấn đề cơ bút lúc bấy giờ khiến họ hoài nghi không dám tin là thuần Thiên điển. Vì vậy nội bộ GH có phần rạn nứt và đi đến tình trạng rẽ chia, Một số bị lung lạc bởi các CS trong nhóm TĐg, một số khác lại ngã về CQCĐ TN, như trường hợp quí vị Ng Cầu, Ngô Đg Ba, Ng Biền, Ph Đg Hải…. với các TT Ng Trg Hưng và Vệ Lg Trung.

Trước sự chia rẽ nội bộ như vậy, HT chưa có giải pháp nào hàn gắn nổi, thì đầu năm Nh Dần (1962), cụ BCQ H Thanh và cụ GS Ng K Trường từ HT về lại ghé thăm QNg gặp quí vị HĐ để trao đổi ý kiến và minh định lập trường hành đạo của GH. Sau chuyến đi nầy cuả 2 CS thuộc hàng kiện tướng của HT, tinh thần của bổn đạo được củng cố thêm và tình hình cơ đạo tại QNg có phần ổn định.

Song lúc bấy giờ, các TT ở miền quê vì bị ảnh hưởng chiến tranh, sự sinh sống của bổn đạo khó khăn, gây hậu quả nặng nề đến đời sống tinh thần, nên việc tu hành tín ngưỡng có phần sa sút. Một số TT ở vùng giao tranh bị thả bom tiêu huỷ, bổn đạo phải tản cư, tập trung về TX sống chen chúc với nhân dân. Các TT ở gần thành phố và V/P TĐ ở LT phải phát triển thêm cơ sở mới để đủ chỗ dung nạp tín đồ.

8- Thời kỳ phát triển rầm rộ rồi suy yếu (1965-75):

Vì phải lãnh đạo ở TĐ nhà và còn trọng trách ở CQ Ph Thiện HT nữa, nên cụ Thái GS M Th Phẩm xin nghỉ làm ĐTĐ/QNg từ cuối năm A Tỵ (1965), HT phải cử cụ Q.GH L Qg Sách làm ĐTĐ.

Trong thời gian 10 năm đảm trách , cụ L Qg Sách và các Chức sắc QNg đã ra sức xây dựng TĐ QNg có bề thế. Nào khu Định Cư cho bổn đạo lánh nạn chiến tranh, nào trường TTH TT HĐ cho con em học hành, nào Ký Nhi Viện để chăm sóc trẻ em, nào những cơ sở kinh tế để gíúp cho đời sống bổn đạo được ổn định. Các TT cũng phát triển rầm rộ, trùng tu, tái thiết, xây cất và mở rộng địa bàn.

Mãi đến năm 1975, chấm dứt chiến tranh, đất nước được hoà bình, thống nhất, bổn đạo lần lượt trở về quê quán và xây dựng lại mọi thứ từ vật chất đến tinh thần.

Ngoài những cơ sở kinh tế và văn hoá-xã hội bị NN quản lý, bổn đạo lo thuần tuý chân tu và giữ sự sinh hoạt tín ngưỡng bình thường. Hiện nay, thuộc HTTGCĐ, tại QNg chỉ còn lại 6 TT: Tr Hoà, Sg Vệ, L Sơn, Tr Thiện, M Long và Đ Phổ. Hai TT sau sinh hoạt rất yếu vì thiếu người lãnh đạo điều hành, nên gần như chỉ còn danh chứ không thực. Sự khủng hoảng nhân sự hiện tại là điều vô cùng âu lo cho toàn thể GH nói chung và tại QNg nói riêng.

Riêng ngôi LT tại TĐ ở TNg, đã bị những phần tử quá khích đập phá từ đầu năm 1975. Sự cố nầy đã được phản ảnh lên CPTƯ nhưng vẫn chìm vào quên lãng. Nghĩ cho cùng thì được thôi! Ngày trước, khi xây cất Đài Kỷ Niệm nầy, Đức LTCN cũng đã dạy trong một đàn cơ như một lời tiên đoán: “các Hiền đã phát nguyện thì cứ làm, nhưng ở đời cái gì cũng hễ hữu hình thì hữu hoại”.

Về sự kiện này, cụ Huyền Xa (tức GH Ng X Thanh) thơi sinh tiền có cảm xúc bằng bài thơ “Tử Đạo hai lần” nói lên sự hy sinh cao cả của Chư Thánh TĐ, mà tiêu biểu là Ngài H Ng Trác, một bậc BT Kỳ Ba, một bậc Thầy trong hàng HĐ. Ngày xưa lúc cụ HX còn nhỏ đã một thời từng xách gói theo Thầy hành đạo khắp nơi.

Cũng nên nhớ rằng, trong thời gian cơ đạo MT bị bế tắc, không liên lạc được giữa HT và các Tỉnh, thì đàn cơ tại TT T An ngày 1/11/Đ Hợi (1947), Ơn Trên đã điểm danh TĐ QNg như một lời tiên tri:
“Ngãi Tỉnh Đạo lài rài thân thế
Đạo tâm ôi thôi kệ trò đời !
Càng lo kinh kệ chiều mơi
Có Thầy có bạn đến thời yên vui.
Phận cui cút lấp vùi bảy thước
Kiếp thân sanh đảo ngược phong trào
Dẫu rằng cảnh thế âm hao
Cũng là thiên diễn nêu cao đạo nhà…”

Ngọc Giáo Hữu Lê Quang Sách (1928- ?) Đầu Tỉnh Đạo Quảng Ngãi (1966-1975), Chủ Trưởng HĐ Chức sắc và Niên Trưởng CĐ Hải Ngọai..

Ngọc Giáo Hữu Lê Quang Sách (1928- ?) Đầu Tỉnh Đạo Quảng Ngãi (1966-1975), Chủ Trưởng HĐ Chức sắc và Niên Trưởng CĐ Hải Ngọai..

Thượng Giáo Hữu Phan Thanh Long (1924- ?), Đầu Tỉnh Đạo Quảng Ngãi (1989) [Sau khi tách riêng hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi].

Thượng Giáo Hữu Phan Thanh Long (1924- ?), Đầu Tỉnh Đạo Quảng Ngãi (1989) [Sau khi tách riêng hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi].

Leave a Reply