Sự hy sinh của các Hướng Đạo tại Quảng Ngãi

Sự hy sinh của các Hướng Đạo tại Quảng Ngãi

Với mười năm đầu truyền đạo CĐ quả là quá ngắn ngủi so với độ dài lịch sử, nhưng bổn đạo QNg đã trải qua 2 trận khủng bố ác liệt, đã tốn hao xương máu quá nhiều! Những sự hy sinh của Họ không bao giờ kể hết!

1- Sự hy sinh là niềm tự hào:

Nói đến Đạo CĐ ở QNg là hẳn nhiên phải nói đến sự hy sinh. Bởi trong quá trình truyền Đạo CĐ, chưa có nơi nào trên đất nước nầy, bổn đạo đã chịu những hy sinh to lớn như ở QNg. Bao nhiêu công sức và tài sản của bổn đạo QNg đã đắp xây cơ sở đạo tâm! Bao nhiêu xương máu của các vị Thánh TĐ QNg đã đổ xuống để tô thắm Đạo kỳ! Công đức đó đã quá đủ dể gây niềm tự hào cho đoàn hậu tấn và tạo tiền đề cho sự vươn tới tương lai.

Với mười năm đầu truyền đạo CĐ quả là quá ngắn ngủi so với độ dài lịch sử, nhưng bổn đạo QNg đã trải qua 2 trận khủng bố ác liệt, đã tốn hao xương máu quá nhiều! Những sự hy sinh của Họ không bao giờ kể hết! Chỉ xin ghi lại dây một vài gương hy sinh tiêu biểu hoặc đôi sự kiện đặc biệt mà phần lớn những tín hữu địa phương đều đã nghe kể lại. Những hình ảnh đau thương bi thảm, hoặc những lời nói hào hùng của các Thánh TĐ trong những giây phút cuối của cuộc đời đã gây ấn tượng ssắc không thể nào phai trong lòng người t. hữu CĐ QNg.

2- Những gương hy sinh trong thời Pháp thuộc (1940-44):

Một câu chuyện thời Pháp thuộc về cụ Tr Khương cũng cho thấy một tám lòng trung kiên vì Đạo: Vào khoảng tháng 2/1944, cụ Tr Khương (lúc bấy giờ TT An Thành còn phôi thai ở nhà cụ) bị lính lệ Pháp bắt trong khi cụ đang cúng kinh giờ Dậu. Lính bắt trói cụ đánh đập và lột Thánh Tượng xé bỏ. Khi thả ra, cụ lượm hết mảnh giấy vụn đem đốt hoà nước uống. Sáng ngày hôm sau cụ bảo vợ mua huyết heo bôi khắp mình, rồi xuống Phủ đường MĐ vào lạy quan Phủ Hoằng tố cáo việc lính lệ đánh đập cụ bị thương tích. Một mặt cụ cho người báo với cụ Ch Trân để vào can thiệp, nhưng cụ Ch Trân vào Phủ cũng bị bắt luôn. Cụ Ch Trân tức mình bày cho đạo hữu bị bắt ở đó đọc Kinh Sám Hối, có đọan:

…… “Làm quan tính kế đảo điên
Gạt thâu gia sản đất điền của dân.
Thả tôi tớ thôn lân húng hiếp
Bức gái lành ép thiếp đòi hầu
Trong lòng mưu chước rất sâu
Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi!……”

3- Những gương hy sinh ở Mễ Sơn năm 1945:

Cụ Ch Trân trong trận khủng bố năm 1940 không bị ở tù vì cụ chủ trương tu hành thuần tuý nên đã cực lực phản đối nhóm tín hữu tham gia bảo hiểm thân Nhật. Nhưng đến trận1945 thì cụ phải hy sinh một lượt toàn bộ gia đình. Chỉ còn có người vợ là bà Tr Thị Cảnh sau nầy được Thiên phong GH và được cử làm gia trưởng TX QNg năm 1959… .

Cũng cần nhớ lại hồi năm 1937, cụ Ch Trân có quyền thế, giàu có và uy tín nhất trong làng (cụ là Chánh Tổng mà!). Với trận đau thập tử nhất sinh, tất cả các thầy thuốc đều chạy hết, cụ đã không ăn uống sáu ngày liền, đang trong tình trạng “vô phương cứu chữa” thì vợ cụ đề nghị mời quí CS CĐ đến cúng cầu bệnh. Gia đình Ngài chấp thuận mời (dĩ nhiên là cùng đường rồi nên cũng làm hoạ may thôi!) và quí CS đến (cũng dĩ nhiên là cầu may). Chỉ mới cúng 2 thời xin nước âm dương cho uống là bớt hẳn, mạnh khoẻ trở lại. Sự kiện nầy đã khiến cụ tin tưởng vững chắc vào sự cứu độ của nền đạo mới và gây một tiếng vang lớn trong cả Tổng và các vùng lân cận. Cụ lập tức nhập môn và hô hào khuyến dụ mọi người theo đạo, ra công truyền đạo và vận động xây cất TT Ng Lập ngay trong vườn nhà cụ.

Tại TT M Sơn, ngày 8/7/A Dậu, Ngài H Ng Trác bị bắt cùng với các HĐ QNg. Qua ngày 10/7, Ngài bị đưa tới một đồng ruộng bên kia bờ sông, gần Huyện đường NgH thì bị giết. Trước khi hành quyết, Ngài xin được phát biểu ý kiến, đại ý là chúc CM thành công và niệm danh hiệu CĐ với những lời khảng khái. Ngài là người ngã xuống sau cùng của chuỗi người bị bắn từ sau lưng tới. Trong khi hướng dẫn phái đoàn HT đi tổ chức lễ phục hưng cơ đạo tại QNg, Ngài thường nhắc đoạn TG dạy Ngài lúc lên đường như một lời báo trước:

“……Chừng nào gà gáy lầm trăng,
Thì con mới biết thân hèn của con……”

Phải chăng việc Ngài thọ nạn ở M Sơn là một điều tiền định? Và việc HT chọn tượng Ngài đặt trên ngon LT là một điều vô cùng có ý nghĩa!

Cũng tại M Sơn, cụ Ng Nghệ, một HĐ cốt cán của TT khi bị bắt đưa về Xuân Đình (Hành Thịnh, NgH) trong khi cụ ăn chay trường nhưng bị chiêu dụ phải ăn thịt trâu để được tha, cụ nhất mực từ chối, nên tối lại họp nhân dân đưa cụ ra hành quyết giữa cánh đồng. Trước khi bị giết, cụ xin được mở mắt ra để có lời từ biệt bà con và cuối cùng niệm danh hiệu Thầy 3 biến rồi mới chịu để cho rơi đầu. Trước cảnh đó ai cũng đều thương tâm!

4- Những gương hy sinh tập thể (1945):

Tại TT B Đề, cụ Xã Hoài (chủ TT) và 2 người con (B Dương, B Phụng) đều bị chém một lượt. Năm ngày sau đó đến cụ Nguyễn Nguyện bị đưa về địa phương là xã Long Phụng (MĐ) mới bị hành quyết. Trước khi bị chém, cụ cũng xin được niệm ba biến danh hiệu CT. Thật qủa là những con người trung nghĩa! Cho đến chết vẫn một lòng vì Thầy vì Đạo.

Khủng khiếp và rùng rợn nhất phải kể đến những vụ hành quyết tập thể. Những cái hầm lớn ở sau vườn TT Ch Nhai (Trong hầm nầy có cả cụ GH Nho, là một CS người Nam thuộc Phái đạo BT). Những cái giếng sâu 15-20 mét ở Đức Dương, Đức Hoài là những nơi có nhiều người bị chôn sống.

Nhưng thê thảm hơn hết là những người bị bắt trói cả chùm gìa trẻ lớn bé, rồi đưa lên ghe chèo ra khơi xô xuống biển, ở TT B Thiện, Ph Lợi và Ph Ninh. Có những người bị bắt ép phải bước qua Thánh Nhãn hoặ lá cờ Đạo để được tha, nhưng Họ nhất quyết thờ Thầy giữ Đạo không thể hành xử một cách ươn hèn. Còn nữa và còn nhiều trường hợp nữa không thể kể hết được!..Đo là những tấm gương vẫn sáng mãi muôn đời.Trong tâm khảm cháu con vẫn mang những vết hằn truyền kiếp.

Nói chung, phong trào CĐ tại QNg trong thời gian trước năm 1945 thật là rầm rộ! Các TT mọc lên như nấm, tinh thần bổn đạo lên cao, phát triển mạnh mẽ như nước vỡ bờ. Khắp các địa phương trong tỉnh không nơi nào là vắng bóng tín đồ và chùa thất CĐ, vì tính cách phổ biến hợp thời và huyền diệu tạo đựơc niềm tin đối vơi mọi tầng lớp nhân dân. Thơì kỳ nầy phải nói Đạo CĐ tại QNg phát triển sôi nổi rầm rộ nhất trong các tỉnh MT. Trong cuộc chính biến năm 1945, hầu hết các TT CĐ thuộc CQTG và các phái đạo CK, BT, TN tại QNg đều bị tàn phá nặng nề về cơ sở vật chất và nhất là nhân mạng. Con số 2791 Thánh TĐ của riêng HTTG ghi tại Đài K Niệm chưa chắc đã đủ! Nếu tính chung toàn các CPĐ thì có lẽ cho đến nay chưa ai có thể kiểm kê được là bao nhiêu! Quả là một điều đáng tiếc!

5- Trang sư đạo bi hùng với sự hộ trì của Chư Thánh:

Vậy đó! Một trang sử đạo bi hùng đầy công lao huyết hãn. GH đứng vững hôm nay chắc hẳn đã nhờ có móng nền vững chắc nơi quá khứ. Sự hy sinh vĩ đại của toàn thể bổn đạo QNg trong giai đoạn lịch sử 1945 quả là niềm tự hào, lại cũng là nỗi khắc khoải của thế hệ cháu con.

Đầu mối của vấn đề nằm ở giai đoạn sau khi HT hoàn thành (1956-1960). Suốt quá trình từ khi mối đạo thuộc hệ phái CK được truyền bá đầu tiên năm 1935 tại đất QNg, bổn đạo đã dày công xây dựng đóng góp với CQTG TB mà hậu thân là HTTGCĐ ngày nay. Thế mà khi HT đã trưởng thành qua việc tuyển phong 108 Chức sắc LS của HT trong ngày lễ KCGP mồng 9/1/ C Tý (1960), lại phần lớn là người QN, trong khi các HĐ QNg chỉ được một con số quá khiêm nhường. Ngay trong cuốn “Lược sử Đạo Cao Đài” do HT ấn hành năm 1956 vẫn không nhắc đến công tích nầy của bổn đạo nơi đây. Do đó đã gây sự bất bình của bổn đạo QNg. Bởi động lực nầy mà một số CS đã rẽ chia, và vài ba TT lại quay sang sinh hoạt với CQCĐTN của cụ Ph Kh Sửu: Thậm chí họ còn lập Bộ Phận Thông Công riêng để tìm hiểu Thiên ý. Phải chăng đó cũng là nguyên do khiến cơ đaọ QNg xuống dốc ở giai đoạn sau nầy.

Đây hẳn là điều đáng cho HT ngày nay phải suy nghĩ và xét lại. Chỉ có một điều đáng mừng là nhờ ơn phước ThL, nhờ sự hộ trì của Chư Thánh, nhờ lập trường thuần tuý và chủ trương dung hợp của HTTGCĐ, mà trải những cơn chính biến vừa qua GH vẫn yên bình và nhân sanh vẫn một lòng tin Thầy giữ Đạo.

Leave a Reply