Sứ mạng Trung Hưng của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài

Sứ mạng Trung Hưng của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài

(Bài thuyết đạo của Ngài Tiếp Cơ Quân Liên Hoa Đàm Thi tại Trung Tông Thánh Tịnh Đà Nẵng. Mùa tu năm Đinh Sửu-1997)

Kính thưa chư tịnh viên,

Mỗi năm Hội Thánh tổ chức mùa Tu để làm cho cán cân Thiên Bình trở lại bình thường ở trong Giáo hội cũng như ở ngoài thế giới được bình an tất cả. Nếu cán cân thiên lệch, về tinh thần khiếm khuyết, về vật chất lẫy lừng, sẽ làm cho thế giới bị đắm mê. Ngược lại, nếu nặng về tâm linh, nhẹ về thế đạo cũng sẽ mất cân bằng. Vì vậy, phải đem lại sự quân bình bằng cách cố gắng lo tu.

Ơn Trên có dạy rằng: “Có tâm mà không có pháp, thì không thành đạo, có pháp mà không có tâm cũng không thành đạo. Hữu tâm vô pháp hoặc hữu pháp vô tâm đều cũng không được. Đối với hàng phẩm lãnh đạo Giáo hội, những nhân tố được xem là linh hồn của Hội Thánh trước hết phải là những con người giải thoát, phải là con người giác ngộ, con người sáng suốt. Tất cả mọi việc làm của những con ngươi đó là làm cho Trời Đất, làm cho thiên hạ. Làm cái gì, nói cái gì, lo cái gì, cũng là cho Đạo, đó là việc làm  của Thánh nhân. Mặc dầu chúng ta chưa phải là Thánh nhân mà đạt cái tâm địa như thế là noi con đường của Thánh nhân, học hạnh Thánh nhân, Thánh nhân là ở chỗ đó, chứ không cần tìm cầu ở đâu nữa. Thánh nhân là cái tâm chỉ nghĩ đến việc của thiên hạ, của thế gian, của nhân loại, chứ không phải ở đâu xa vời. Mà muốn đựơc cái tâm ấy thì phải thế nào?

Hội Thánh ta có một ân phước rất lớn mà chúng ta chưa đặt nặng vào sự thọ nhận, để bị hư hao mất mát. Nay muốn chuộc lại, chúng ta phải quay về với Ơn phước đó. Đó là 3 hướng đi:

  • Một là tướng pháp, là hướng đi chung của thế sự.
  • Hai là bí pháp, là hướng giải quyết những u ẩn oan trái cho nhân sinh.
  • Ba là tâm pháp, là con đường giải thoát để làm Thánh nhân.

I- Tướng pháp:

Gồm có bốn Cơ quan, ba phái, ba đài. Đó là cơ sở đủ để hoằng hoá, cổ võ, dọn đường cho tương lai hoà bình thế giới, cho hạnh phúc nhân loại, đại đồng thế gian. Tướng pháp đó rất quan he, trước hết bốn cơ quan gồm có: Hành chánh, Phổ tế, Phước thiện, Minh tra.

  • Hành Chánh: Lo việc chủ trương đường lối, an bài trật tự, phân định ngôi thứ, phân định vị trí, sắp xếp trong ngoài.
  • Phổ Tế: Lo phần trị bệnh tâm lý, bệnh nhân sự, bệnh thế tình. Đánh thức người mê, làm cho họ tự tỉnh, tự giác ngộ.
  • Phước Thiện: Lo việc bố thí, trì giơi, để đền trả lại những gì mình vay mượn của thế gian, cướp đoạt của thế gian, lừa lọc của thế gian, tóm thâu của thế gian, nó đã kết thành nghiệp nặng cho mỗi người. Nay muốn giải nghiệp, cần phải bố thí, chẩn tế. Ai cầu chi thì cho nấy, cầu pháp thì pháp thí, cầu tài thì tài thí. Và chẩn tế là pháp khải thị cho âm hồn để siêu độ họ, cầu rỗi cho họ.    – Minh Tra (Bảo Pháp): Là cơ quan giải oan, gỉai tỏa mọi oan trái buộc ràng cột chặt, giam hãm, ngăn ngại làm cho con người không thoát ra được, không tiến lên được.. Việc làm của Minh Tra bảo pháp là đưa vào giới luật, vào khuôn khổ, để không sai, không lệch, mà luôn luôn đi đúng đường đúng hướng.

Bốn Tướng pháp trên gọi là Qui y Tam Bảo. Tam Bảo đó là Phật Bảo thì có Bát Quái Đài, Pháp Bảo thì có Hiệp Thiên Đài, Tăng Bảo thì có Cửu Trùng Đài. Bốn Tướng Pháp nầy đưa ta đến chỗ nương nhờ vào Thầy, nương nhờ vào bạn, nương nhờ vào giới luật để đi đến chỗ giải quyết được cuộc đời, giải thoát được bản thân. Đồng thời có thể xây dựng một pháp môn để cứu độ vạn thế trên cõi đời nầy. Pháp môn ấy năm trong 3 phái là phái Thái, phái Thượng, phái Ngọc. Phái Thái lo về phần tôn giáo, phái Thượng lo về phần khoa học, phái Ngọc lo về phần chính trị.

Việc nương nhờ vào Tướng pháp vẫn chưa đủ điều kiện giải quyết cái lớn lao viên mãn, đến cứu cánh thì cần có Tứ Bửu Pháp.

II-Bí pháp:

Bí pháp tức Tứ Bửu Pháphay là pháp Bí Tích. Đầu tiên là rửa sạch bụi đời, rửa sạch lòng phàm, tảo thanh tất cả mọi trái ngang của thế gian gọi là Tẩy Tịnh. Phải dùng phép tẩy tịnh để tẩy mọi nhơ bẩn thế gian, rửa sạch mọi lòng phàm, thanh trừng mọi lòng dục, tảo trừ mọi vọng niệm. Đó là dọn con đường cho chúng sinh đi vào tôn giáo mà chư Phật, Tiên, Thánh, Thần từ trước đến nay đã giáng sinh, nhập thế với một mục đích là chỉ đường, mở Thiên nhãn cho mọi người thấy đâu là phải đâu là trái, dâu là đục đâu là trong, đâu là khổ đâu là vui, đâu là luân hồi sanh tử, đâu là nhập thánh siêu phàm. Mở lối chỉ đường, ấy là Khai đàn. Tất cả mọi người chúng ta đều giả hợp bởi tứ đại, cũng như ông táo, bình voi hay tượng Phật, tượng Thần, tượng Giấy. Tất cả đều là bằng đất, bằng gỗ, bằng giấy. Mà khi có tượng rồi, có cục đất rồi, có miếng giấy rồi, mà không khai quang điểm nhãn, không trấn cái thần vào trong đó thì chẳng linh hiển chi cả. Như vậy, cần phải Trấn Thần. Trấn Thần, tức là đặt cái ông chủ vào đó. Khi chưa có tên, chưa có chủ thì khúc cây, cục đất , kê đâu cũng được, ném đâu cũng được, nhưng khi đã có tên có chủ, khi đã thành ông táo, thành tượng Phật thì ai ai cũng phải nể, phải kiêng, phải kính. Như Xã Đạo chúng ta có Chánh Phó Trị Sự là ông Thần để giữ Xã Đạo, an bài cho Xã Đạo. Như ở Thánh Thất thì có ông Đầu Họ Đạo, có 4 Ban Ngành. Khi đã là Trị Sự, là Đầu Họ, là Ban Ngành thì đã có tên, tức đã trấn Thần, đã trao quyền ông chủ. Sau đó phải đặt vào vị trí thích nghi. Vị trí ông Táo, vị trí ông Phật, vị trí Thánh tượng, vị trí ông Trị Sự, vị trí ông Đầu Họ, vị trí các ông Ban Ngành. Vị trí nào có chức năng đó, có quyền hành đó. Việc đặt để nầy gọi là An Vị. Khi đã an vị rồi thì không thể thay đổi được. Không thể một ông Đầu Họ ra quét nhà, gánh nước và một đạo hữu lại hành pháp tế lễ.

Bốn công việc Tẩy Tịnh, Khai đàn, Trấn Thần, An vị gọi là pháp Khai Đạo Thông thuộc về Hành Chánh.

Đến việc giải quyết các căn bệnh tinh thần, bệnh thể xác, những tật nguyền, đui điếc, què quặt, ngu độn, u mê, không biết nẻo chánh đường tà, không hay đường siêu nẻo đoạ. Chỉ lao vào bệnh Tham, bệnh Sân, bệnh Si, bệnh phiền não, bệnh rầu buồn… thì phải do ở phương môn Phổ Tế gọi là Khai Nguyên Giáo Pháp. Rồi đến Phước Thiện gọi là pháp Khai Sinh Cơ Thông là do công cuộc xây dựng một tập thể đại đồng, một cộng đồng sinh hoạt, tạo sự tương quan giữa đời sống để đi đến chỗ cùng một Cha chung Thượng Đế. Sống chung, ăn chung, làm chung, ở chung, học chung, tu chung. Còn về Minh Tra gọi là Khai Pháp Thông thuộc về Bảo Pháp tức là làm cho Đạo hữu, cho Trị Sự, cho các Ban Ngành, cho ông Đầu Họ khỏi bị lệch lạc, luôn luôn lấy luật làm Thầy, gọi là Tùng Pháp đi đến Đạo.  Minh Tra có bổn phận ngăn đường thoái hoá, chấn chỉnh, nhắc nhở, để ai ai cũng đi đúng mục đích về Thầy. Như vậy 4 Cơ quan Hanh Chánh, Phổ Tế, Phước Thiện, Minh Tra của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài không những chỉ làm công việc an bài trật tự, truyền đạo, giữ đạo, giúp khó trợ nghèo mà còn có được một năng lực cứu độ của 4 pháp Bí Tích để lo việc Trị Bệnh , Tắm Thánh, Chẩn Tế, Siêu độ, Bạt độ và Giải Oan cùng với việc Tẩy Tịnh, Khai Đàn, Trấn Thần, An Vị.

Pháp Bí Tích được trao truyền cho hàng phẩm trị Đạo của Hội Thánh để gỡ tất cả các trói buộc, thắc mắc, cũng như nợ nần để thanh toán ngay trong cõi đời nầy.

Chúng ta hiện gặp gỡ nhau,  cùng chung  với nhau một Xã Đạo, một Thánh Thất, một gia đình, cùng đạo hữu với nhau, cùng tập thể với nhau, rồi cùng cha con, chồng vợ, anh em với nhau. Chúng ta đến gần nhau trong oan trái, đến gần nhau để đòi nợ, để trả nợ, để đền ơn, để trả ơn, đến gần nhau để giải quyết, để thanh thoả, để dứt bỏ ràng buộc, dứt bỏ xích xiềng, thoát ly giam hãm. Và có giải thoát được, có oán trả nợ đền được hay  không là do ta có giác ngộ hay không, có thức tỉnh hay không mà thôi!

Một người bị án tù có thể 5 năm, 10 năm, 20 năm, hay lâu hơn nữa, nhưng rồi cũng hết hạn, cũng được ra tù nhưng cái tù của vợ con, của chồng con là suốt đời không biết hết hạn, nếu chúng ta cứ tham luyến, cứ ái dục, ngu mê, lừa lọc, đảo điên thì cái nghiệp dẫn nó sẽ đưa mình đi từ kiếp nầy sang kiếp kia, đầu thai làm người, làm vật, làm đủ thứ trên thế gian trong 6 đường luân hồi sanh tử. Chỉ một cái ái dục không thôi mà nó đã cột trói nhau đến chừng nào! Vì bổn phận với vợ con do ái dục mà tạo ra. Cho nên, dù vào hang hùm, lên núi thẳm, xuống bể sâu, miễn có tiền để nuôi vợ con cũng không từ. Vì muốn sự nghiệp giàu sang, thì dù phải gian manh, trái đạo, cũng bất chấp để đạt được mưu cầu…

Đó là vì vô minh che khuất, vì cứ mãi mê, đắm đuối, tưởng giả thành chơn, tưởng trái thành phải. Cho nên giờ đây, cần nhứt là chúng ta phải giác ngộ. Vì chúng ta đã gặp được Thầy, thấy được Đạo, chúng ta phải rán chuyển cái vô minh thành viên minh, hoá cái phiền não trở thành bồ đề, giải thoát cái thân phàm nầy trở thành thân Thánh. Phải nên biết rằng vô minh là cái khổ nhứt, có thể gọi là mất linh hồn. Còn linh hồn thì ra cũng tiến hoá được, nhưng mất linh hồn thì muôn kiếp tiêu tan. Bây giờ ta tu đây là thoát vòng vô minh, quyết ra khõi sự vây hãm của ma quân, ma tướng, ma thiên, ma địa, ma thân, ma nghiệp, nó cứ quanh quẩn vây quanh ta, lôi kéo ta, che lấp những ánh sáng làm cho ta không còn thấy gì nữa cả. Đường lối tu của ta là “Bảo pháp luyện châu”. Bảo pháp luyện châu là hình thức của “Pháp luân thường chuyển”. Bánh xe Pháp quay thì tất cả thất tình lục dục, tứ tướng, tam độc, lục trần, ngũ uẩn, lục căn… đều được quay trở về, đem trở về với Thượng Đế. Luyện châu là kéo trở về nguyên gốc để nó trở nên Thánh nên Hiền. Một câu danh hiệu Cao Đài theo từng hạt châu có thể lôi cuốn tất cả vạn loại vạn loại quần sinh trở về với Thượng Đế, không luận Hiền Ngu, không kể tội phước, không phân biệt người hay ma. Tất cả đều được quay vòng trở về với Thượng Đế. Đó là pháp môn Tận Độ. Phương pháp Tận Độ là phương pháp vận chuyển châu thiên. Ta hãy suy gẫm bài kệ:

“Thế giới Càn Khôn tóm một bầu,

Cao Đài danh hiệu độ năm châu.

Siêu phàm nhập Thánh chơn thường lạc,

Khử ám hồi minh pháp nhiệm mầu.

Thần khí vận hành thông vạn pháp,

Thân tâm thanh tịnh đạt thanh cao.

Cao Đài niệm niệm Kim Quang hiện,

Đoạn nghiệt trừ phiền đệ nhất châu”.

III- Tâm pháp:

Tâm Pháp tức Bảo Pháp Luyện Châu. Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài từ khi được thành lập, Ơn Trên đã ân trao cho bảo pháp để tu luyện qua các giai đoạn từ cạn đến sâu, từ thấp đến cao, từ giải ngộ đến giác ngộ và chứng ngộ. Bảo pháp nầy được truyền dạy bằng cơ bút do Đức Đông Phương Lão Tổ, Đức Quan Thế Am Bồ Tát, Đức Quan Thánh Đế Quân, Đức Phổ Đà Bồ Tát và Đức Ngô Đại Tiên đã chỉ rõ ngọn nguồn. Pháp Đạo nầy được Đức Lý Thái Bạch minh định đây là bước đường chung cho mọi người và đã trao truyền đầy đủ đầu đuôi tại Hội Thánh Trung Hưng:

……  “Đây là cái bước đường chung,

Đường chung ai cũng  phải cùng mà đi.

Đường chung có ở  tiên  tri,

Đường chung Nam Bắc Tam Kỳ đoàn viên.

Đường chung có Phật, Thánh, Tiên,

Đường chung có Bát Nhã Thuyền đưa sang.

Đường chung không sợ lầm than,

Đường chung không phải nói càn nơi đâu.

Trung Tông có pháp nhiệm mầu,

Có Thầy  chỉ  lối  có  đầu  có  đuôi”……

Pháp nhiệm mầu như ở phần đầu đã nói, đó là:

  • Tướng pháp: 4 cơ quan
  • Bí pháp: 4 bí tích (Tứ Bửu Pháp)
  • Tâm pháp: 4 tầng bậc công phu.

Bốn tầng bậc công phu trong phần tâm pháp là: Hồi hướng Linh châu, Tướng châu, Tâm châu và Tam Bảo Hoàn châu.

  • Linh châu: Tức Hồi Hướng Linh châu:  Từ xưa nay, con người trên cõi thế gian nầy, ai cũng bị hướng dẫn bởi lục căn, chạy theo với lục trần, để sinh ra lục dục. Có thể nói rằng hễ mở mắt ra là đua với sự, với vật, với danh lợi, với tình tiền. Đó là cái tâm hướng ngoại, là phóng tâm, cái tâm chạy ra để đi tìm cầu cái bên ngoài. Người ta bảo đó là: “Bối giác hiệp trần” Bối là cái lưng, xây lưng với chánh pháp (giác) mà hiệp với ngoại cảnh trần duyên. Đó là tâm phàm.

Người đã đi vào cửa tâm pháp tức là tìm đến Thánh tâm, tìm đến con đường hướng nội, con đường chạy về. Ơn Trên dạy đó là hồi hướng, tức là hướng về, quay về với Thượng Đế, quay về với Chơn tâm, với Chánh pháp. Nghĩa là đổi ngược câu trên lại thành “bối trần hiệp giác”, nghĩa là ta xây lưng với thế gian mà ngó thẳng về Thượng Đế. Hiệp với tri giác, với tâm linh, đó là con đường hướng nội. Tư bỏ luân hồi từ bỏ mọi lôi cuốn phiêu lưu thế trần. Tất cả mọi hữu vi, vô vi, hữu hình, vô hình dều quay trở về với Thượng Đế, đó là ý nghĩa của Hồi hướng. Còn Linh châu, Linh có nghĩa là linh hoạt, linh động. Châu là cái ý thức, cái phần lanh lẹ, lợi hại nhất, nó xẹt ra xẹt vào, thoạt biến thoạt hiện, thoạt đến thoạt đi, buon cái nầy bắt cái nọ. Muốn cầm giữ nó, điều ngự nó, phải lấy niệm chế niệm, niệm liên tục không gián đoạn. Hơi thơ, câu chú, hạt châu cứ thung dung tịnh toạ. Cứ từng ngày từng giờ chuyên tâm, tích luỹ nhiều năm tháng thì định lực tăng huy, lòng được vui, thần được sáng, nhặm lẹ trong quyết đoán, linh hoạt trong hành động, hạnh đức trở nên đủ đầy. Cài tâm yếu của Hồi hướng Linh châu được cô đọng trong bài kệ:

“Vận chuyển Càn Khôn một khí lành,

Linh căn nương tựa được hồi sinh.

Tam Kỳ đại xá khai môn đảnh,      

Thần khí giao hoà tánh thiện minh”.

  • Tướng châu: Tướng là cái thấy được. Thấy được cái gì? Thấy được hơi thở, hay đúng hơn là thấy được cái hiện tượng hô hấp của hơi thở, tức là cái đối tượng vô ra, âm dương, phải trái, Thánh phàm, đúng sai… Tất cả đặt vào đối đãi giữa ta và vật để chống chế nhau, tàn hại nhau, ganh tỵ nhau, cướp đoạt nhau, hiếp đáp nhau, chém giết nhau. Tướng châu là cách tu dẹp bỏ đối tượng. Ta đem tất cả các đối tượng trở về một. Bởi vì cái động của Dương, cái tịnh của Am, cái sáng của Dương, cái tối của Am… đều ở trong lòng Thái cực, tức là trong vòng tròn có 2 cái gọi là một Am một Dương. Đó chính là cái Tâm còn nguyên, chưa phân tích thành đối tượng. Nó vẫn còn nằm trong Tự tánh, còn đồng nhứt với Tiên Thiên.

Khi nó không còn đồng nhứt với Tiên Thiên, tách rời ra khỏi Thái cực là bất nhứt, tức là đã phân đôi thành đối đãi. Có Âm có Dương , có ngày có đêm, có sáng có tối, có sang có hèn, có khôn có dại, có Đời có Đạo, nghĩa là có phân hoá, có chia rẽ, có gay cấn…

Khi ta thọ Tướng châu, là xoá bỏ tất cả đối nghịch, để trở về một, gọi là qui nguyên hiệp nhứt. Hiệp nhứt cùng Thượng Đế, cùng sự sống, vì Thượng Đế là sự sống. Mà sự sống  nầy là sự sống chắc chắn vĩnh cửu khỏi tốn khỏi hao.

Ta sống ở đời cần nhứt là gì?  Là cơm ăn nước uống. Nước uống cần hơn cơm ăn vì thiếu cơm chịu được lâu hơn thiếu nước. Nhưng còn thiếu hơi thở thì sao? Trong tức khắc không thể sống được. Như vậy sự sống là hơi thở, là một hô một hấp. Nhưng có ai thở mà biết mình thở hay để tâm đến sự thở? Có một đệ tử hỏi một Thiền sư: “Thưa Thầy, ở đời nầy, cái gì là cần thiết nhứt đối với sự sống?” Thiền sư trả lời: “con muốn biết thì ngày mai theo Thầy sẽ biết”.

Ngày mai, hai Thầy trò dẫn nhau ra suối tắm. Ong Thầy nắm đầu đệ tử nhận xuống nước, mặc cho người học trò vùng vẫy, cho đến khi gần ngộp thở ông mới buông tay và hỏi:”Con đã biết cái gì là cần thiết cho cuộc sống chưa? Chính là hơi thở!”.

Tu Tướng châu là trở về với hơi thở. Trở về được với hơi thở tức là thở mà biết mình thở và như thế là trở về với sự sống trong an toàn, được  trọn vẹn, được tự do, không bị phá đổ và trừ được thế tình, dẫn dắt tất cả pháp ngã trở về với Thượng Đế.

Như vậy, Tướng châu là lấy sự làm chủ hơi thở làm cơ sở. Từ đólàm cho khí tụ tinh cô, bảo tồn được Tam Bảo, đó là bước đầu xây nền đắp móng cho thần an. Để hỗ trợ cho việc điều khí, còn phải niệm chú để chế tâm, lần hạt để ngăn tình thức. Thần khí là Âm Dương, là Tánh Mạng. Khi tánh mạng song tu, trở nên hiệp hoà là đạt thành chế tâm chỉ.

Tóm lại, Linh châu, Tướng châu là hai phần cơ chỉ của Bảo Pháp Luyện Châu, nó dẫn dắt tất cả tình thức, tư tưởng, ác niệm của chúng sanh trong học đạo quay về với Thượng Đế. Có nghĩa là phá đối tượng để về với Thái cực, về với Đại Đồng. Đức Hải Triều Thánh Nhân có dạy rằng:

…… “Ngồi mà luyện linh châu mới biết,

Lòng được an, khí huyết được đều.

Hồn mình bay bỗng cao siêu,

Kề tai nghe được Thiên điều dạy khuyên.

Khuyên ta quay về miền thanh tịnh,

Dạy ta nhiều pháp kín độ đời.

Công ta nhờ đó sáng ngời,

Tâm ta nương đó đất trời huyền thông.

Lần lần chuỗi đôi lần thì biết,

Biết lần lần hư thiệt chẳng sai.

Biết ta trong pháp Cao Đài,

Không sanh không diệt không ngoài không trong.

Châu đã tỏ phá vòng u ám,

Châu đã minh thông cảm màn trời.

Châu lòng lặng bật tăm hơi,

Thì thân nào sợ đất trời đảo điên”……

  • Tâm châu: Trong con người,  ngoài cái tâm thì

không có cái gì khác nữa cả. Cái tâm gồm có vọng tâm và chân tâm. Vọng tâm là tâm thức, là cái tâm phân biệt. Nó là một tên giặc trong lòng, là động cơ xúi giục cho tai nghe, mắt thấy, mũi ngửi, lưỡi nếm, miệng nói, chân đi, tay bắt, thân xúc chạm với thế gian. Nghĩa là nó hợp tác với lục căn, dua rượt theo bên ngoài chụp bắt tất cả các hiện vật, lợi danh, ân ái, tình tiền. Tất nhiên có cả mâu thuẫn, bất nhứt, tội lỗi, cặn bã…… mọi thứ đó được huân đúc, lại giao cho Mạt-na-thức (thứ thứ 7), còn gọi là truyền thống thức, để đưa vào kho A-lại-da-thức (thức thứ 8) hay còn gọi là tàng thức. Tám thức nầy là 8 tâm vương cộng tác vơi 51 tâm sở trải khắp mọi nơi. Tâm vuơng (vua tâm) là tâm cái biết có tự chủ, tự tại, cũng như ông vua có quyền sai khiến, điều khiển. Tâm sở (quần thần) là bề tôi chịu sai khiến, hưởng ứng thi hành.

Trong 51 tâm sở gồm có 6 loại như sau:

1- Biến hành: có 5 món.

2- Biệt cảnh: có 5 món.

 3- Thiện: có 11 món.

4- Bất  định:  có 4 món.

5- Căn bản phiền não: có 6 món.

6- Tuỳ phiền não: có  20  món.

Trên mặt đất nầy không có chỗ nào là không có tâm sở. Hễ mỗi khi có động niệm khởi lên từ tâm vương thì tất cả tâm sở hùa nhau, tán trợ nhau, để tạo nên nghiệp thiện hoặc nghiệp ác. Cũng như khi có lệnh vua, là quân thần, làng xã, huyện tỉnh phải hợp sức thi hành. Cho nên, có câu rằng: “khẩu khai thần khí phát, thiệt động thị phi sanh”. Mở miệng thì thần khí phát tán, khua lưỡi (nói ra) thì thị phi đủ điều. Như  vậy, người ta phải thấy hai con đường: hướng nội do tâm thức, hướng ngoại do ý thức. Tu tâm châu là hướng nội bằng con đường tâm thức. Phải thu phóng tâm mới thành Đạo. Muốn vậy, phải trừ cho được hoà hiệp thức, thế cho được tương tục tâm.

Hoà hiệp thức là thức nầy hoà hiệp với thức kia, ví dụ ý thức hoà hiệp với con mắt (nhãn thức) thì chạy theo sắc trần, tham đắm cái đẹp. Ý thức hoà hiệp với lỗ tai (nhĩ thưc) thì chạy theo thanh trần, say mê thanh âm…… Tất cả đều do nơi thức hoà hiệp mà có đủ thứ tội lỗi, phiền não, loạn động. Vì vậy, phải trừ cho được hoà hiệp thức. Còn tương tục tâm là niệm nầy liên tiếp niệm khác. Niệm nầy sanh ra, niệm khác chết đi, cái sanh cái diệt nối tiếp, làm tâm ta xao động, luôn nghĩ tưởng, luôn dấy lên. Chúng ta phải nên ý thức cao thượng theo tứ  thập nhị điều của nhà Phật. Phật nói: “Ngộ pháp: Niệm vô niệm , hành vô hành, ngôn vô ngôn, tu vô tu hội giả?”. Phải chăng Ngài muốn nói rằng giáo lý của Ngài là giáo lý tưởng tưởng niệm . Mà tưởng niệm đó, không nghĩ tính gì cho ta cả. Tưởng niệm cho thiên hạ, nghĩ tính cho thiên hạ, cho bốn phương, lo cứu độ cho chúng sanh, làm cho trời đất. Tất cả đều vì chúng sanh, thiên hạ trời đất mà thôi! Người Chức sắc Cao Đài cũng vậy! Tất cả việc làm, lo nghĩ đều là cho nhơn sanh, cho Xã Đạo, cho Thánh Thất, cho Giáo hội. Thậm chí việc ăn uống, tắm rửa, giặt giũ là cho mình nhưng nghĩ  cho cùng thì cũng là lo cho chúng sanh. Như vậy thì người Cao Đài tu cho nhơn sanh được giải thoát,  cho Thánh Thất được yên ổn, cho Xã Đạo đuợc mạnh lành, cho thiên hạ đạt được Chánh pháp. Nếu ai cũng rõ được  vậy, tu được vậy, tức là Phật đó rồi!

Người tu tâm châu, là phải siêu được cái “Phàm” mới nhập được cái “Thánh” hay cũng nói là ”Nhân dục tịnh tận thiên lý lưu hành”.

Theo đạo Dịch mà nói thì con người từ Chánh tâm  trở nên thất chánh, từ Tiên Thiên lệch sang Hậu Thiên. Theo Tiên Thiên Bát Quái thì trục Nam Bắc là Càn Khôn chính vị, theo đó con người có chánh tâm (Thiên địa chi tâm) chưa bị thị phi điên đảo, phiền não kéo lôi. Nhưng từ Tiên Thiên lệch sang Hậu Thiên, thì Càn chuyển về Tây Bắc, Khôn chuyển về Tây Nam. Trục Nam Bắc bây giờ là Khảm Ly, con người đánh mất Thánh tâm, bị chi phối bởi Phàm tâm, nhơn dục dẫy đầy. Người tu là chuyển Phàm tâm ra Thánh tâm. Thuật ngữ Cao Đài gọi là chiết Khảm điền Ly, nghĩa là hoán đổi vị trí hào hai Dương ở quẻ Khảm với vị trí hào hai Am  ở quẻ Ly để Khảm Ly trở thành Khôn Càn và các quẻ khác cũng theo đó mà trở về chính vị gọi là qui nguyên. Muốn qui nguyên phải vận chuyển châu thiên, phải quay bánh pháp, phải di lư hoán đảnh, phải thông đồng cửu khiếu để trở về với Tiên Thiên. Công việc đó nằm trong xâu chuỗi 18 hạt , nó không ngoài âm dương. Khi hạt châu quay vòng  là ma chướng, ác nghiệp đều trở về một, tức là trở về với Thượng Đế. Như nước sông rạch dù dơ nhớp khi ra biển cả là hoà nhập đại thể trong ngần. Muốn qui tất cả trở về một thì không thể dùng ý vì ý luôn luôn là tà vạy, mà phải dùng tâm. Phải “nhiếp tâm qui nhứt tại hồ hư tịnh “. Phải dùng hư tâm và tịnh tâm. Hư Tâm và Tịnh tâm là Chánh pháp. Ta cũng nên biết rằng:

“Tu hành dễ, ngộ tâm khó

Ngộ tâm dễ, tru tâm khó

Trụ tâm dễ, vô tâm khó

Vô tâm dễ, dụng tâm khó”.

Biết khó, làm khó… dụng tâm làm khó, trụ tâm ở chỗ như lý là gắn bó với Thựơng Đế. Như lý là chỗ không không, an tâm ở chỗ rỗng rang, giữ tâm ở chỗ bình thường, dụng tâm ở chỗ quán chiếu tức là soi rọi, soát xét lại, kiểm tra lại cái chỗ dụng tâm có Chánh pháp không? Ngộ tâm  ở chỗ quên hết, không câu chấp, không tự đắc. Tảo thanh, khử trừ, khôi phục vọng tâm để trở về nguyên lý. Và phải biết rằng cái chân tâm nằm trong phiền não, trong vô minh, trong thân phàm nầy đây. Cho nên, tìm chân tâm là tìm trong phiền não, trong vô minh, trong xác phàm. Sen mọc từ trong bùn. Thượng Đế có trong kẻ phàm phu. Biết khử phàm phu sẽ thành Thánh đức. Người ăn trộm phóng dao thành Phật, con quỷ dạ xoa hôm nay mà là Bồ Tát ngày mai. Cho nên, không thể tìm được Tiên Thánh ngoài phàm phu.

Trong lúc còn ở Hạ thừa, còn tu theo Tướng Pháp thì phải diệt trừ mê lầm, nhưng khi tu đến tâm pháp thì chuyển hoá chứ không tiêu diệt. Không phải vì do mắt nên ta đắm sắc, vậy ta móc bỏ mắt. Không phải vì do tai nên  ta mê âm thanh, vậy ta huỷ tai… Điều cần yếu là buông bỏ những chứa đựng:

“Buông lỏng không u tối

Rắc rối làm gì sinh

Cầu được cái không được

Chánh pháp tự nhiên thành”.

Nên nhớ câu: “Tình nghĩa nhập thần”. Nghe một lần mà nhớ đến muôn đời. Phải học nằm lòng ba không:

– Không của Trời vì tâm mà che.

– Không của Đất vì tâm mà chở

– Không của Tinh tú, Nhật nguyệt vì tâm mà soi.

Tâm phải theo hơi thở mà đến rún, đến nê hoàn. Tâm tức nương nhau, chứ không thể ông đi đường nầy bà đi đường khác.

Thần cỡi trên khí mà đi

Khí phải theo thần mà đến.

Vậy tu tâm châu là đem cái chánh khí trở về, tìm cái chánh tâm trở về. Người ta mất đồng xu cắc bạc phải chạy đó chạy đây, tìm cho được, thế mà mất tâm sao không tìm về?.

Tất cả mọi Chức sắc Chức việc, mọi Ban Ngành ai là người bảo phụ con đường Hướng Đạo thì hãy tìm lại cái Tâm của mình để hướng dẫn cho người khác.

  • Tam Bảo Hoàn châu: Là tầng bậc công phu rốt ráo của Bảo pháp luyện châu. Đây là công phu luyện đạo của Tiên gia, phương pháp thực hành được mật truyền, dâng lễ theo từng thứ bậc công phu: Trăm ngày, ba năm, sáu năm, mười hai năm. Xin Tam Bảo Hoàn Châu trước phải được chuẩn nhận vào môn đệ Cao Tiên (Ngô Minh Chiêu), phải đốt hồng thệ thọ Đạo.

Vì vậy, phần Tam Bảo Hoàn Châu hứa có dịp tôi sẽ trình bày sau nầy, cũng như Tâm Pháp Đại Thừa của Hội Thánh Truyền Giáo và các Hội Thánh khác. Tâm Pháp của Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo và Huyền Môn của Bà La Môn, của Cơ Đốc giáo……sẽ tìm kiếm những tương đồng, tổng hợp, soát xét xem giữa cái Tâm của 12 Tông Phật giáo có giống cái Tâm, Tướng, Linh châu của Cao Đài không? giữa 4 cái hệ thống của Bà La Môn có tương hợp với 4 pháp tu châu và 4 bí tích của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài không? Có đem tổng hợp so đọ thì mới có một lòng tin tưởng rằng Cao Đài có một Chánh pháp dung thông, dung hợp, dung hoà giữa các lý thuyết trên mặt đất nầy để có thể kết hợp với Thượng Đế.

Xin cám ơn và kính chào chư Tịnh viên.

Liên Hoa

Leave a Reply