Sứ mạng Trung Hưng

Sứ mạng Trung Hưng

(Bài thuyết đạo của Ngài Ngọc Phối Sư Nguyễn Khoa Trừơng tại Trung Hưng Bửu Toà,  ngày 01/6/ Kỷ Tỵ – Đại Đạo năm thứ 64 – 1989).

Kính thưa……

Cứ mỗi năm, đến ngày 1/6 Am lịch, Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài cử hành lễ Kỷ Niệm Hội Thánh tại THBT. Tinh thần kỷ niệm nói lên những gì ? Nghĩa tôn vinh ngày lễ ra sao? Có gì siêu xuất vượt lên trên những hình thức tổ chức, những nghi lễ thông thường ? Cái tinh hoa buổi lễ phát tiết những gì để tăng điển quang và sinh lực dồi dào, làm sao hưng phấn, tăng đức tin để nỗ lực chung tâm hiệp sức hành đạo lập công, vun bồi cây Đại Đạo ngày thêm tươi tốt.

Bài thuyết đạo hôm nay sẽ được chúng tôi trình bày làm 3 phần: 

  1.  Ý nghĩa buổi lễ .
  2.  Sứ mạng Trung Hưng
  3. Khái niệm về Bửu Toà.
  • Trước hết, chúng tôi sẽ nói về “ý nghĩa buổi lễ”.

Như chúng ta đã biết kỷ niệm buổi lễ không ngoài những tập quán, những ước lệ bình thường.

  • Toàn đạo chí thành dâng Đại lễ cầu nguyện lên Đức Chí Tôn ban phước lành cho Hội Thánh sáng suốt, đạo đức trang nghiêm, thương yêu hoà hợp, phát huy mọi tiềm năng trí tuệ, dìu dắt nhơn sanh trên đường Đạo chí Chơn chí Thiện.
  • Tổng kết những giá trị lịch sử, những thành quả hành đạo, những công phu, công quả, công trình của toàn đạo đã hy sinh xây đắp cơ đạo Trung Hưng, phục hồi chơn truyền đạo pháp, củng cô tổ chức, ổn định sinh hoạt, khen thưởng Chức sắc, uỷ lạo nhân sinh, tạo mọi điều kiện phát huy chân lý Đạo, góp phần xây dựng Tổ quốc, Xã hội về mọi mặt, biểu dương tinh thần cộng yêu hoà ái trong toàn dân, tôn trọng quyền tự do bình đẳng, dân chủ tiến bộ. Kính trọng mọi người vì Đạo đã đặt phẩm vị con người ngang hàng cùng Trời Đất.

Nhưng bao nhiêu việc nói trên, chưa đủ để chúng ta nói lên ý nghĩa ngày kỷ niệm, chưa đủ để chúng ta tìm nhân tố, nguyên động lực buổi sơ khai truyền đạo ra Trung Bắc.

Vậy cơ truyền Đạo ra Trung Bắc là gì ? Xin thưa, đó là cơ  “Tứ Linh”, một pháp môn chuyên “Châu Thiên Đài”. Nhưng một điều khó hiểu của cơ trời là 4 anh em Tứ Linh vừa ra Trung là bị chết hết 3, chỉ còn một mình anh Thanh Long, sau nầy Thầy chọn anh Bạch Hổ thay vào để làm nhịp cầu đông tây cho Thầy đến dạy Đạo. Như thế là Châu Thiên thiếu trục Nam Bắc. Xét về cơ pháp qua  “Tứ Linh” là ý Thầy muốn truyền dạy cho chúng ta phải tu học. Luyện Châu Thiên Đài ấy là cái “Đài Thông Thiên” ở trong tâm chúng ta. Cái đài nầy được phát khai đúng tần số thì ta được quyền tiếp giao với Thượng giới, với các linh điển nhiệm mầu. Tiểu châu thiên trong người ta chuyển được thì trong Đại châu thiên của Trời ta cũng được tham dự tương đồng.

Vì  thiếu trục Nam Bắc,  nên Châu Thiên  không chuyển nổi và cơ Truyyền Giáo ra Bắc cũng chẳng thành. Cho nên, ngày thành lập Hội Thánh (1956) Thiêng Liêng có đến dạy và ban truyền “Sứ mạng Trung Hưng”.

“Trung Hưng xây một nhịp cầu,

 Nhịp cầu Nam Bắc, khởi đầu từ đây”.

Nam Bắc đây không phải là Nam Bắc 2 miền mà phải hiểu theo nghĩa Đạo: Bắc phương Nhâm Quí Thuỷ, Nam phưong Bính Đinh Hoả. Đó là tượng cho Khảm Ly: Nước Lửa, Mặt Trời với Mặt Trăng hay là Tinh Thần. Cái câu nầy Hội Thánh chưa hiệp nhứt được, Thuỷ Hoả chưa hoà, Tinh thần chưa hợp nhất được, nên mới có lục đục nội bộ.

Nay để chúng ta ó được một tư tưởng hành động hiệp nhất Đạo, ta phải an Thổ, nhập Trung Ương Mồ Kỷ, cậy vào uy linh của Thổ thì mới hiệp nhất được tinh thần. Vì nguyên do hệ trọng nầy mà Đức Ngô Đại Tiên đến gắn cho Hội Thánh một đạo bùa “Sứ mạng Trung Hưng” và một pháp tu  “Tứ tổ qui căn, tam gia tương kiến”. Vậy cái bí quyết của pháp môn nầy, Hội Thánh phải nghiên cứu tu học, phải “tri chỉ” biết đến cùng đích để thông lẽ đạo nhiệm mầu, hầu đủ oai đức mà giáo hoá nhân sinh. Nếu không thấu đạt thì thuyền đạo dẫu vượt qua muôn trùng sóng gió, cũng vẫn phải tròng trành giữa đại dương, khó mong đến bờ  “giải thoát”.

Sách Đại Học dạy: “Tri chỉ nhi hậu hữu định, Định nhi hậu năng tịnh, Tịnh nhi hậu năng an”. Định, Tịnh, An cái gì đây? – Xin thưa: Định có cái Tịnh là cho Tịnh được yên lặng, Tịnh cái khí, khí trong sạch không giao động, sóng gío trong lòng bất động. An cái Thần đểm đủ ánh sáng chiếu minh lý đạo, được vậy thì năm vị Phật: Thanh Tịnh Trí, Diệu Minh Lý, Phục Tưởng Thị, Diệt Thể Thắng và Phục Linh Tánh Phật hội tụ thành năng lượng thần quang. Chừng đó, đức zHuệ Năng trong ta sẽ xuất hiện.  Đó chính la minh sư của mỗi chúng ta, dạy chúng ta đem hết nhiệt tình sống đạo. Vậy sống Đạo là như th nào? Là biết cách sống “phối Thiên hiệp Địa”, biết hội thông “Tam Tài”, “Nhân giả kỳ thiên địa chi tâm giả”. Con người là trung tâm của Trời Đất.

“Nhân giả kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỉ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí”, nghĩa là con người là cái đức của Trời Đất, chỗ giao của Am Dương, chỗ hội tụ của quỉ thần, chỗ tổng hợp của Tú khí của Ngũ hành. Con người là kết tinh, là hình ảnh của Thượng Đế, là trung gian giữa Trời Đất. Vì vậy, mà con người sống đạo phải “chí thành” tu đạo “Trung” để được hoà nhập vào bản thể.

Quan niệm ý nghĩa ngày lễ và sự sống đạo là như thế.

Kính thưa quí vị,

  • Phần thứ hai, chúng tôi xin trình bày cùng quí vị trong buổi lễ hôm nay là : “Sứ mạng Trung hưng”.

Vào mùa xuân năm At Mão (1975) tôi có soạn một đề tài nói về “Sứ mạng Trung Hưng” có đăng trong tập báo xuân  “Trung Hiệp Hưng Nguyên”  – Kỷ yếu một cuộc khẩn hoang lập ấp thành công. Đạo Trung hồi đó tôi quan niệm còn thiếu sót, nay xin bổ túc vào để tài liệu được phong phú sáng tỏ hơn.

Đạo Trung Hưng chính là mục đích chúng ta nhắm để tiến tới chân lý.

Vậy Trung là gì? – Trung là Đạo Trung Dung của Trời Đất. “Bất thiên chi vị Trung, bất dịch chi vị  Dung”. Khảo sát các đồ bản dịch ta thấy Trung cung, Trung điểm, tượng trưng cho “bản thể”, còn các quái bên ngoài là tượng trưng cho “hiện tượng”.

Đạo hay Bản thể, hay Trung điểm, hay Thái cực Thần bí, An vi, Mạc trắc, khó hình dung, khó mô tả, nên phải mượn các hào quái để gợi vẽ ra. Hào quái chỉ tượng trưng bên ngoài cho Đạo, cho bản thể. Những tượng, số, hào, quái. Là những hình ảnh mượn nóđể chỉ cho bản thể, cho cái lý vô vi vô hình tích, Kinh Thanh Tịnh có dạy:

“Đại Đạo vô hình, sanh dục Thiên Địa,

Đại Đạo vô tình, vận hành Nhật Nguyệt.

Đại Đạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật,

Ngôđạo bấttri kỳdanh, cưỡng danh viết Đạo”.

Đạo là bản thể vô hình nên dùng lời lẽ nào mô tả cũng thấy bất xứng. Vì thế, các bậc Hiền Triết xưa mới bày ra nhiều từ ngữ, đặt nhiều tên khác nhau. Nào vô, nào hữu, nào vô cực, thái cực, Hoàng cực, nào Trung, Thượng Đế, thậm chí còn gọi là Hư vô tịch diệt. Nhưng chung qui vẫn cùng một đường lối là dùng từ ngữ để hình dung bản thể.

Bản thể tuy vô hình mà lồng trong vạn vật để làm lý tính, làm căn cơ, làm nguồn sống vận dụng vạn hữu. Nhưng vạn hữu đâu phải Trời là bản thể. Vạn hữu chẳng qua như hào quái bên ngoài ôm ấp bản thể hay trung điểm ở bên trong. Mở đầu bài Kinh “Ngọc Hoàng Bửu Cáo” có câu: “Đại  la Thiên Đế, Thái Cực Thánh Hoàng”, nghĩa là lấy hình thể bao la mà nói thì gọi bằng Trời hay Thiên Đế,  lấy chủ tể sai khiến  mà  nói  thì  gọi  là  Thượng  Đế, ngôi Thái cực Thánh Hoàng.

Đạo Dịch hình dung bản thể bằng hình tròn Thái Cực, gồm luật Âm Dương điên đảo, tung hoành trong lặng lẽ trống không, ôm ấp nhau thành một khối hồn nhiên duy nhất.

 Thánh Nhân dùng chữ Trung chỉ cho ngôi Thái Cực . Trung có nghĩa là Trung tâm điểm phát sinh vạn vật và là cùng đích vạn vật hướng về. Dung là thường tại, xưa qua nay lại không hề thay đổi. Kinh Dịch muốn vẽ lại, muốn hình dung trong muôn một bóng hình của  “Tuyệt đối”, cũng như Thái cực ở Trung cung toả phát sinh các hào quái biến thiên thành vòng Dịch bên ngoài.

Đạo hay Thái Cực trong vũ trụ cũng phát sinh muôn vàn hiện tượng thiên văn, địa lý, nhân sự.

“Tinh hoa chính khí đất trời,

Khoát hình vật chất khắp nơi vẫy vùng.

Tràn mặt đất tuôn sông kết núi

Vút đất trời chói lọi trăng sao,

Trần gian lẫn bóng anh hào,

Muôn ngàn khí phách rạt rào tầng xanh”.

Hiện tượng tuy do bản thể phát sinh, nhưng thực ra có muôn hình sắc di động, biến thiên, ảo hoá khôn lường.

Hiện tượng là những hình tượng do các sự vật trong vũ trụ phát sinh ra mà ta có thể nhận biết được. Nó có một cuộc đời dài ngắn tuỳ nghi theo công dụng. Nó như những làn sóng rạt rào tràn lan khắp vũ trụ. Bất cứ cái gì biến thiên cũng đều là hiện tượng. Cho nên, từ ý thức, từ ngữ, tượng số, vận động, hình sắc cho đến những biến thiên trong xã hội nhân quần. Những vinh, khô, đại, tạ trong thảo mộc, những đấu tranh, sinh tồn giữa cầm thú, những tổ chức xã hội đều là những hiện tượng cả.

Hiểu số phận phù du của hiện tượng là hiểu được số phận của vũ trụ hữu hình và các trạng thái xã hội. Dù một tôn giáo lan tràn và được suy tôn đến đâu, dù một quốc gia hùng cường đến mức nào rồi ra cũng theo số phận chung là suy vong tàn tạ. Nhưng vì sự biến thiên có nhanh có chậm, có chóng có lâu, nên bèo nầy mới chế được bột kia là phù du chấp chưởng, nào hay nghìn vạn năm cũng ví như một chớp mắt trên tấm phong vĩnh cửu. Nhưng dưới những cảnh phù du biến ảo còn có cái bản thể bất biến, còn có cái tinh thần bất biến, ví như xác thân ta có mất đi tinh thần ta là một thực thể vẫn tồn tại trong bầu “hư linh chi khí”.

Cứ theo lý biến dịch và bất dịch mà nhìn ra sự vật, ta hãy: “Tự kỳ biến giả nhi quan chi tắc thiên địa tăng bất năng dĩ nhất Thuấn, tự kỷ bất biến giả nhi quan chi, tắc vật dữ ngã giải vô tận ngã”.

“Từ biến chuyển nhìn ra trời đất,

Thì đất trời bỗng chốc đã qua.

Từ trong bất biến nhìn ra,

Muôn loài vạn vật như ta vô cùng”.

Thấu lẽ huyền vi của Trời Đất, các bậc Hiền Thánh có công dạy Đời tìm ra bản thể bất diệt. Phật cáo: “Nhữ trì trung thân hữu bất diệt đa”: Cái tinh thần bất diệt nằm trong mọi biến thiên, dạy ngườilấy tâm địa vun trồng cây “Tánh Mạng”đem phù du biến ảo tài bồi “Thiên địa chi tâm”. Than ôi! Biết bao người đem tinh thần  xu phụng hình hài, ngoại cảnh để cho các hiện tượng: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, sáu trần mặc tình đẩy đưa sai khiến, đời của Họ dồn cả ra ngoài, dổi tâm thần  công danh, ngựa xe, áo mão, rốt cuộc linh hồn phải chịu đày đoa trong lục đạo luân hồi, thực đáng thương thay!

Các bậc Hiền Thánh xưa nay biết rõ hai phương diện: cái phù du và cái vĩnh cửu, cái biến dịch và cái bất dịch, nên chi công thành thì thân thối.

“Nam nhi nhược đắc phong hầu ân,

Bất phụ nhân gian tấu nhứt tạo

Công thành thân thoái, yên hà tiếu ngạo.

Thoát khước tử hà bào, phương thị nam nhi chí”.

…… “Muốn được ấn phong hầu quí báu,

Cho bõ công bôn tẩu nhân gian.

Nhưng khi công đã thành toàn,

Ta  nên  tìm  chốn  an  nhàn ,  tránh  xa .

Nghêu ngao vui thú yên hà

Ao bào cổi lại, đó là chí trai……”

Nhưng đã bỏ phù hoa không phải là để nghêu ngao vui thú yên hà, mà chính là để tìm “chân lý”, để tu luyện cho thành bậc “chân nhân”, biết đường qui nguyên phản bổn. Khi tu đạt đạo, con người sẽ sống một cuộc đời thảnh thơi, thảng  đãng, linh diệu, huyền thông. Họ thấy được cái không tướng của chư pháp, nó chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng dơ, chẳng sạch, chẳng thêm, chẳng bớt. “Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm”.Cái không tướng là “Chân thường vĩnh cửu”, là đạo trung dung, là ngôi Thái Cực, Thượng Đế.

Đức Thượng Đế lâm trần kỳ Hạ Nguơn nầy mục đích là dìu dắt con cái của Ngài đi tìm cái bất biến ở trong thâm tâm của chúng ta, là cái “Tinh, Khí, Thần” bất tử. Khi khám phá thấy con người thực qủa có linh hồn thì phải lo tu dưỡng, tìm đường giải thoát khỏi vật chất buộc ràng, khỏi phiền não vô minh, khỏi vòng lẩn quẩn của sinh tử, để có một tâm hồn an tịnh, tự do hạnh phúc, hoàbình. Đó là trở về với “Một” vơi trung tâm bất biến, là huờn nguyên bản thể, được tự tai trong ánh hào quang linh diệu của Thượng Đế.

“Biên khu luân lạc từ bao

Tìm sao cho thấy đường vào Trung Dung.

Đường Trung Dung linh lung ẩn khuất

Nẻo Bồng Lai gai rấp lau che……”

Để đạt được mục đích giải thoát nói trên, Thánh nhân bất đắc dĩ phải gắng gượng đặt tên, phải nhân hình hoá, vật chất hoá cái máy linh mầu nhiệm sâu kín trong vũ trụ, để khai mở, bồi bổ “ tri giác” của kẻ đạo tâm và hướng dẫn theo lối chánh chơn  “tuyệt đối”. Vậy nên người đi tầm Đạo, họcĐạo, trước hết phải tìmhiểu lý sinh tử:

“Học đạo yếu tri sanh tử sự,

Bất tri sanh tử mạn cầu tiên.

Năng tri sanh xứ năng tri tử

Khứ trụ vô cầu nhậm tự nhiên”.

“Học đạo phải rành lẽ tử sanh,

Chớ cầu Tiên Thánh nếu chưa rành.

Nếu rành được lẽ sanh cùng tử,

Trói buộc cỡi xong, Đạo đạt thành…”.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy dạy: “Các con đã sanh ra tại thế nầy, chịu khổ não tại thế nầy, rồi chết cũng tại thế nầy. Thử hỏi các con chết rồi, các con ra thế nào? Các con đi đâu? Chẳng có một đứa hiểu cơ mầu nhiệm ấy…”.

Khi chúng ta biết rõ linh hồn là một thực thể tồn tại, thì lúc đang sống phải lo nuôi dưỡng linh hồn bằng chất  “Khí Kim Quang”. Cái linh hồn huyền diệu Thiêng Liêng vô hình ấy do nơi “Tinh Khí Thần” luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Nó vẫn là chất hiệp với khí Tiên Thiên hằng  có điển quang. Cái linh hồn buộc phải tinh tiến trong sạch mới nhẹ hơn không khí ra khỏi ngoài càn khôn đặng. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Thiện, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một một thân phàm tinh khiết mới xuất lịnh tinh khiết. Tinh thần ấy chứa đủ siêu năng lượng mới hoà nhập vào bản thể Trung Dung.

“Cung Trí Giác trụ tinh thần,

Huờn hư mầu nhiệm, thoát trần đăng Tiên”.

Chúng ta ưu tư lo xây dựng cơ đạo Trung Hưng, thì phải vượt qua tình ý riêng tư, những chấp nhứt hẹp hòi, luyện cho được chữ Hoà.

“Hoà là một món báu linh,

Là chìa khoá mở Ngọc Kinh đặng vào”.

Ta tự nỗ lực công phu tu luyện, mở chìa khoá nhập Bát Quái vào Trung cung, không nên ỷ lại hoặc nhờ cậy vào một tha lực nào, Thầy thương đến để lời chỉ dạy chứ không thể ẳm bồng đưa ta về Thiên Đàng được.

Nay muốn khai thông con đường nhập vào bản thể, vào Trung cung, chúng ta cần phải trải qua 9 cấp bậc tu học như sau:

  • Lớp Thái cực: Đại la Thiên đế, Thái cực Thánh hoàng.
  • Lớp Vô cực: Đạo cao Vô cực, Gíao xiển Hư linh
  • Lớp Tam Thanh: Đạo cao Nhứt khí, Diệu hoá Tam thanh.
  • Lớp Am Dương: nhất Am nhất Dương chi vị Đạo.
  • Lớp Tứ Tượng và Lục Long: Khí phân Tứ Tượng, thời thừa Lục Long.
  • Lớp Thất Bửu: Ao Thất Bửu gội mình Sạch tục, ngôi Liên Đài quả phúc Gìa lam.
  • Lớp Bát Quái: Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc hư.
  • Lớp Cửu cung: Ngọc lịnh ban hành khải cửu cung.
  • Lớp Thập Thiên Can và Thập Nhị Chi: Thập Thiên Can bao hàm vạn tượng, tùng Địa chi hoá trưởng Càn Khôn.

Người tu Đạo Cao Đài mà không học hỏi qua 9 cấp thần số nầy thì không thể hiểu Cao Đài nổi, vì Đạo là Dịch Kinh Linh Thể, là Bát Quái Cửu Trùng, là Thái cực, là Vô cực, là Am Dương Ngũ Hành, là Nhật Nguyệt Tinh Thần.

Để tóm tắt phần thuyết trình nầy, tôi xin đọc bài kinh “Thiên Địa Long Hoa Thượng Hội” sau đây:

“Tự nhiên không khí, vạn tượng toàn vô,

Ngưng Thái cực đồ, âm dương phân lộ.

Tứ phương củng cố, Bát Quái biến thành.

Trược trược thanh thanh, càn khôn hấp khí

Nguyên sanh Bàng Thị, hậu xuất Phục Hy.

Kiến lập Can Chi, Ngũ Hành sinh khắc.

Do âm dương chi ngũ tặc

Sản Thiên Địa chi vạn bang.

Phong lôi vũ lộ tự thiên đoan

Sanh tử phù trầm u địa chuyển

Thiên cao bất biến, Địa hậu nan lường.

Nhân hữu Ngũ thường, Thiên nguyên nhất điểm.

Long Hoa Thượng Hội Thiên Địa đại nhơn, đại độ, đại đức, đại từ, tế sanh vạn vật, đại đại cao tôn”.

Kính thưa quí vị,

Phần cuối cùng, chúng tôi xin trình bày “khái niệm về Bửu Toà” cùng chư quí vị trong buổi lễ hôm nay.

Bửu Toà là tòa nhà báu trọng, để thờ Đức Thượng Đế Cao Đài. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển trang 9, đàn cơ ngày 20/2/1926  Thầy có dạy:

“Bửu Toà thơ thới trổ thêm hoa,

Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.

Chung hiệp rán vun nền đạo đức

Bề lòng son sắt đến cùng Ta.

x

Nguồn Tiên tầm đạo dễ gì đâu,

Quyền pháp càn khôn một túi thâu

Thoát xácxưa từng tu vạn kiếp

Độ hồn nay gọi khắp năm châu.

Tìm hiền lắm lúc gieo nền đạo,

Cải dữ đòi phen cỡi mạch sầu

Trần khổ dầu ai chân muốn lánh,

Ngày  thành chánh quả có bao lâu”.

Nền Đại Đạo hiện nay, chúng ta được biết có 2 Bửu Toà, ngoài Trung có Trung Hưng Bửu Toà, trong Nam có Cao Thượng Bửu Toà, có lẽ sau nầy còn nhiều Bửu Toà nữa, khi nền đạo được truyền bá rộng rãi ra ngoại quốc. Mỗi Bửu Toàlà một giòng đạo, là cái nhánh của câyĐại Đạo mà cái gốc đạo phải là nơi phát nguyên nền Đạo, đólà ToàThánh, nơi Tổ Đình chung của con cái Đức Chí Tôn.

Thánh Giáo Trung Hưng, Thầy có dạy:

“Gởi gắm cho nhau mối cảm tình,

Trên hoà dưới thuận mới là xinh.

Chờ ngày ta đến đem nhau lại,

Lại một Cơ quan ấy Tổ Đình”.

Lịch sử Đạo trải qua 64 năm trường, mấy lần vật đổi sao dời, bao lớp sóng phế hưng của thời cuộc, cơ đạo không sao tránh khỏi những cảnh tang thương, thăng trầm tụ tán. Tuy một số Chức sắc hành đạo có sai lệch chơn truyền, đạo pháp, nhưng Toà Thánh vẫn đứng sững nghiễm nhiên trơ gan cùng tuế nguyệt phong ba, thị hiện một bức Thiên  đồ tại nước VN cho thế nhân chiêm ngưỡng. Pháp Chánh Truyền, Tân Luật, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển đều do Toà Thánh ban hành và giữ bản quyền. Hiện nay chúng ta cũng căn cứ luật pháp giáo điều nầy mà hành đạo, không có luật pháp nào khác hơn.

Về phương diện kiến trúc, chưa có nơi nào tiêu biểu đầy đủ cả Thánh hình Đại Đạo bằng nơi Toà Thánh. Quan sát kỹ mới thấy Toà Thánh là nơi bỉeu tượng cho nền văn hoá dân tộc tổng hợp dung hoà kết tinh 3 nền văn minh cổ kính của nhân loại: An Độ, Trung Hoa và La Hy.

Sở dĩ chúng ta có nền văn hoá tổng hợp Nho, Thích, Đạo “Tam Giáo Đồng Nguyên” là vì nguyên lý lập quốc Tổ Tiên ta đã căn cứ vào “Lạc Thư Minh Triết” để dựng thành huyền thuyết:

            – Đế Minh với nàng Vụ Tiên.

            – Kinh Dương Vương với Long Nữ.

            – Lạc Long Quân với Au Cơ.

Ba trai ba gái không khác gì gia đình Bát Quái của Văn Vương: Chấn, Khảm, Cấn, Tốn, Ly, Đoài, cũng như gia đình Noe 3 trai: Sem, Cham, Giaphết và ba nàng dâu.

Ba cặp quái tượng nầy đã tạo thành 18 đời Hùng Vương, có 18 Bửu pháp trị quốc mà ta thường thấy thờ trước Đền Hùng Vương.

Công trình kiến trúc của Toà Thánh có sức hấp dẫn lôi cuốn khách ngoại quốc đến quan chiêm không phải ít. Tôi tin tưởng các nhà khoa học, triết học, thần học, có con mắt thấu thị (Huệ nhãn) họ sẽ tìm hiểu và giải thích rõ ràng hơn.

Nay nói về Bửu Toà trổ hoa, vậy hoa ấy là hoa gì? – Xin thưa hoa ấy là Hoa Sen (Liên Hoa). Cho nên, đồng Tử Liên Hoa có sự liên đới cảm ứng với Bửu Toà vì cái tên Liên Hoa. Cũng như Đạo Huynh Hồ Thừa Sử có tặng tôi bài thơ xuân năm nay có câu: “Liên tử nê trung hạ trưởng thành” cũng là hạt sen trong bùn, vì những mối tương quan tự nhiên nầy  mà tôi giải thích về hoa sen.

Cây sen biểu tượng rất xưa về vũ trụ và con người, cho nên, cây sen tượng hình quân tử, cái gì thanh cao trong sạchtrong cái hữu hình. Cái bản nguyên gieo giống là hạt của nó. Trong hạt đã có sẵn chứa cái mầm sống nhỏ tí gọi là liên tâm. Như vậy, ta có thể hiểu rằng cái nguyên hình tâm linh của mọi vật đều ở trong cõi đời vô hình trước khi những vật đó hiện hình “thể chất” lên trên cõi đời hữu hình.

Ngày xưa ông Châu Đôn Di yêu sen có tán rằng: “Du ngã ái liên chi, xuất ư nê nhi bất nhiễm, trọc thanh liên bất y cu, trung thông ngọai trục, bất vạn bất chi, hương viễn ích thanh, đình đình tịnh trục, khả viễn quan chi, bất khả tiết ngoạn yên”, nghĩa là: có một mình ta yêu sen, trong bùn ra mà không nhiễm cái hôi tanh mùi bùn, nước trong đục sen chẳng nệ,trong thông ngoài thẳng, không nhánh không cành, hương xa thêm nồng, mọc ngay rằn rặc, có thể xa trông mà không thể khinh ngắm. Hoa sen là tượng trưng cho người quân tử vậy. Ong Châu Đôn Di yêu sen, khen sen bằng những câu văn tuỵêt tác, cũng như 4 câu thơ tả hoa sen Việt Nam:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Hai câu giữa tuy có đảo phe, có phản dịch “Xanh, trắng, vàng – Vàng, trắng, xanh”, nhưng màu sắc vẫn  y nguyên không đổi thay biến chất, vẫn là nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Cái cao quí, thanh thoát của người quân tử là ở đó. Dầu ngược xuôi, thượng hạ, sau trước, phải trái, sen vẫn giữ khí tiết không thay đổi tính chất. Cây sen xứng đáng là tượng trưng cho đời người và vũ trụ.

Đạo bí truyền cho ta hay rằng: “Những nguyên tố tạo thành con người và vũ trụ cũng như nhau”, cho nên, cổ nhân nói: “Thiên địa vạn vật đồng nhất thể”. Cả hai đều phát triển cùng một nhịp và có sự thông hội với nhau. Ví như rễ sen chôn trong bùn tượng hình cái đời vật chất ô trọc, tanh hôi hay là cõi hạ giới. Đối chiếu trong thân người là Tâm dục giơi.

Thân sen mọc thẳng qua nước, tượng hình sự hiện tồn trên cõi trung giới, đối với người là cái tâm ở cõi “sắc giới”. Hoa sen nở trên nước, trong không gian biểu tượng cõi thần linh vô vi hay là cõi vô sắc giới, thượng giới. Xét trong châu thân con người Tiểu Thiên địa cũng gồm có 3 phần: đầu, bụng và ngực.

  1.  Đầu là chỗ đóng đô của tinh thần, bộ óc chỉ huy tối cao, thần kinh kệ, nơi quần tiên hội.
  2. Bụng là chỗ cư ngụ của vật chất, bao tử, ruột.
  3. Ngực ở giữa làm trung gian môi giới cho tinh thần và vật chất, gồm có phổi, tim (thần khí) để vận hành khí huyết. Đối với vũ trụ thì gọi là Thượng, Trung và Hạ giới. Các nhà triết học thì gọi là Giới Tâm linh, Lý trí và Tình cảm, cũng noi là: Tinh thần, Sinh hoạt và Vật chất.

Con số 3  là con số mầu nhiệm của Đạo, nó tượng trưng cho sự biểu hiện Tam nguyên Nhất thể, nó thể hiện cơ sinh hoá, cơ huỷ diệt và cơ bảo tồn.

Trong người có Tam Bảo là Tinh, Khí, Thần. Nó luôn luôn nhắc lại Ba mà Một, Một sanh Ba, chỉ định nguyên lý tối đơn sơ nhất mà Phật gọi là Brahma, Civa, và Chritna. Ba ngôi nầy là căn nguyên của vạn vật, do đó, con người đến cõi trần gian (ra đi), và cũng nương đó con người trở về nguồn cội. Thần sanh Khí, Khí sanh Tinh là sanh xuống, Tinh hoá Khí, Khí hoá Thần là sanh lên.

“Nguyên Thần, nguyên Khí với nguyên Tinh                  

Ráp lại kêu lâu nó tượng hình

Phá cửa Linh Đài vào bái Phật

Ngũ hành hiệp nhất mới mầu linh”.

Cái lý dâng Tam Bảo hay quy y Phật, Pháp, Tăng hay Tam Huê tụ đảnh, cũng đồng một ý nghĩa.

Đây xin giải về cái lý thuận sanh là ra đi, nhất bản tán vạn thù. Khí sanh quang là Đức Mẹ (gốc) ở Diêu Trì cung (Gián bổn lưu mạc nhi sanh vạn vật).

“Nơi Kim Bàn vàn vàn nguyên chất,

Tạo hình hài các bậc nguyên nhân”.       

Đức con là ngọn (mạt) ở ao Liên Trì. Liên Trì hải hội Phật: Ao sen biển nhán Phật. Ở nơi đây sát ranh phàm Thánh. Biết quày về hướng thượng thì nên một với Phật Tiên, được tham dự Bàn Đào Hội Yến của Tây Vương Mẫu. Nếu vô minh đi luôn thì trợt chân sa vào trầm luân khổ hải (biển trần khổ). Cái Tiên Thiên nguyên Khí một lần động sanh Tiên Thiên nguyên Tinh. Đây là sát ranh phàm Thánh. Động nưa sanh Tinh hậu thiên giao cảm để hoá phàm Tinh và Khí một thể thuộc Thuỷ. Ví dụ: Tháng Giêng đầu mùa xuân, nửa đêm nhiệt độ trụt xuống đến mức nào đó, trong không gian xuất hiện một vật mờ mờ mịt mịt, sắc mà không, không mà sắc, chắc chắn chúng ta đều biết đó là “sương mù”(matìere éthérique), là hơi nước, nửa nước nửa hơi, đó là hơi hư vô sanh hơi nước.

– Hừng sáng nhìn thấy trên lá cây ngọn cỏ có những giọt nước trong veo, con đỏ của hơi sương gọi là giọt sương đã nên hữu hình thuộc chất lỏng.

– Hơi lạnh tăng gia như bên trời Au nước nầy thành tuyết lỏng mà đặc (sền sệt).

– Tột lạnh như ở Nam Bắc cực thì tuyết thành giá đặc cứng như nước đá hoàn toàn hữu hình.

                    {  Nguyên Khí hơi hư vô là Đức Mẹ

THÁNH      [   Nguyên Tinh hơi sương là đứa con (chân).

                    [   Tinh giao cảm là giọt sương

  PHÀM      [   Tuyết là chúng sanh chủng (giả).

                    [   Giá là chúng sanh thể.

Đây là nói cái lý hơi thành nước, nước thành hơi, là sự thực  hiển  nhiên  không  cải. Diêu Trì  sanh  Liên Trì, Liên Trì sanh Diêu Trì.

Bây giờ làm thế nào để ao Liên Trì hoá ao Diêu Trì. Như ta đã biết lòng ta xao động không được thanh tịnh là do cái khí (Rồng) phát sinh, nó lìa căn cội sanh sóng gió, làm rối trật tự, mất điều hoà, vọng niệm phát sanh, ý tình vọng động chạy ra bên ngoài để sanh ra thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm nhiễm dục trần, muốn tự chủ thì Thần phải chế ngự cảm giác, điều khiển theo ý muốn của mình, vì vậy nên phải luyện trí để chế ngự tình cảm, gọi là “luyện hồn chế phách”.

Có giá mới sanh nóng, biết phép ngừng gío thì biển lòngsóng lặng. Ai muốn uống “Định phong đơn” thì lâu ngàysẽ có Ai muốn có ánh sáng trong tâm thì phải luyện “Định hải châu” của Nhiên Đăng Cổ Phật. Vì vậy, mà bước đầu luyện Khí phải tập luyện châu. Chuyển châu thiên để điều thần vận khí, hành huyết, chuyển tinh, tập ngưng thần tụ khí, hoà hiệp âm dương, cho sanh ánh sáng (Bồ Đề Bát nhã), có được ánh sáng thì tâm mơi thanh tịnh.

Công phu luyện khí rất là lợi hại, vì quyền năng của nó rộng lớn vô cùng, sáng tạo, huỷ diệt, vừa vây hãm, vừa giải thoát. Đó như thứ vi trùng vừa chống bệnh tật, vừa sanh bệnh tật, là thuốc tiên, đồng thời cũng là độc dược, là Huỳnh Tương Tiên Bửu mà cũng là rượu sắc men tình. Hư nên, còn mất, siêu đoạ là do Khí.

Muốn làm Tiên Phật phải có thành con chủng, mà chẳng nên do nó thành chúng sanh chủng. Vì thế, mà người tu luyện đạo phải làm cái việc khó khổ nhất trên đời là phải “tuyệt dục”, trai giới tinh nghiêm.

Tóm tắt, “Đạo” chẳng ngoài Am Dương, hoà hiệp theo phàm pháp (đạo vợ chồng) thì sản ra “nhục thân”. Nếu theo chơn pháp thì sanh “Thánh thể”.

Thời pháp cũng đã dài, đạo bất tận ngôn, tôi chỉ mong sao Huynh, Tỷ, Đệ, Muội đã nhập Thánh Thể phải dò đường cựu vị. Muốn thực hiện chân truyền đạo pháp phải khử quỉ trừ ma (thất tình lục dục). Muốn liên đài được trổ thêm hoa thì phải học tu Tiên Phật.

Để kết luận bài thuyết giảng hôm nay, tôi xin kệ một đoạn giác mê ca:

“Kinh Huỳnh Đình tụng đọc năm ba,

Vô Đồng Tháp buồn xem Tạo hoá

Ngó Nam Lãnh vui màu tòng bá

Nhìn Bắc hà rùa cá nhởn nhơ

Chốn đơn phòng bày tỏ huyền cơ.

Mặc dầu kẻ ngộ cùng không ngộ.

Có duyên gặp Tam Kỳ Phổ Độ.

Muôn đời còn từ phủ nêu danh

Ba ngàn công quả được viên thành.

Đơn thơ chiếu hiển vinh thiên tước.

Chín phẩm sen vàng khai thấy Phật,

Cửu huyền thất Tổ đặng vinh thăng”.

Trân trọng cám ơn và kính chào quí liệt vị.

Nguyễn Khoa Trường

Leave a Reply