Sự xuất hiện tôn giáo Cao Đài tại Việt Nam

Sự xuất hiện tôn giáo Cao Đài tại Việt Nam

Đã lâu rồi, có lẽ chư quí vị cũng từng nghe nói đến mấy chữ “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” Vậy nay, nhân dịp nầy, tôi xin giải đại lược về ý nghĩa, lịch sử và tôn chỉ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Kính thưa quí quan khách Pháp Nam,

Kính thưa quí Bà, quý Ông,           

Kính thưa chư quí Đạo hữu Lưỡng phái.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay là Đại ân xá Kỳ Ba cuả Trời vốn là một tôn giáo mới mẻ do thần cơ diệu bút và do giáo lý của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế lập ra. Nền tôn giáo mới mẻ nầy lấy danh của Đức Cao Đài là vị Giáo chủ mà làm danh hiệu. Hai chữ Cao Đài có ý nghĩa là cái đài cao nhứt, là Bạch Ngọc Kinh, nơi Thượng Đế hay hiểu rộng ra nữa là ám chỉ Đức Chí Tôn chúa tể Càn Khôn, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế chấp chưởng Càn Khôn, thống ngự vạn vật trên cõi Huyền Khung (Thiên Đình).

Cao Đài: Danh từ Cao Đài đã có lâu đời rồi ghi chép trong những quyển kinh tối cổ của nhà Phật và nơi trang đầu sách Thánh bằng chữ Hán do Hội Truyền Giáo    của người Anh và ngoại quốc xuất bản vào năm 1813 tại Thượng Hải. Nhưng mãi đến năm 1920 , hai chữ ấy mới xuất hiện đầu tiên tại xứ Nam Kỳ tại một buổi cầu Tiên với ông Tri Phủ Ngô Văn Chiêu tại Tân An trước khi ông ra trấn nhậm đảo Phú Quốc ở vịnh Thái Lan.

Tánh thanh liêm lại được dân chúng kính mến, quan phủ Ngô Văn Chiêu lúc ấy đã đi vào con đường Đạo đức hằng noi theo các qui luật của các tôn giáo xưa tại Á Đông. Thỉnh thoảng, trong cảnh hẻo lánh xa khơi kia thuận tiện cho sự trầm tư mặc tưởng, Quan Phủ lại ham mê sự cầu Tiên với người đồng tử trẻ vừa mới đến. Chính do nơi các Đấng Thiêng Liêng ấy mà Ngài tiếp đặng nhiều lời khuyến dụ cần ích về sự tiến hoá linh hồn của Ngài. Trong các Đấng Thiêng Liêng thường giáng cơ ấy có một vị xưng danh là Cao Đài tỏ cảm tình đặc biệt với Quan Phủ Chiêu. Ngài mới xin với Đức Cao Đài chỉ cho Ngài phương cách thờ phượng theo một hình thức hiển nhiên thì Ngài đắc lệnh thờ Đức Cao Đài dưới biểu hiện một “con mắt” có nhiều tia sáng chung quanh.

Thiên nhãn: Về vấn đề Thiên Nhãn hay là Con Mắt ấy mà có kẻ diễu cợt hay không ưa Đạo đem ra mỉa mai, nói là “con mắt của thành Mạc Tư Khoa”, (nghĩa bóng là theo Cộng Sản). Tôi xin ngưng lại một chút để giải rõ ý nghĩa cao thâm của Thiên Nhãn. Thiên Nhãn vừa nói trên khêu gợi tự nhiên trong tâm giới của người ta một tư tưởng về Đấng Tạo Hoá. Ngay như trong sách của Đạo Thiên Chúa (cuốn La Cathéchrisme album do nhà in Saint Joseph xuất bản tại Paris), người ta đã có in Thiên Nhãn và để lời chú thích như sau: “Đấng Chúa Trời là Đấng Thiêng Liêng, mắt phàm không thể thấy đặng và vì thế mà không thể miêu tả ra bằng một hình ảnh gì. Thiên nhãn kia chỉ cho chúng sanh rõ rằng Đấng Chúa Trời là Đấng thần thông vô lượng vô biên, việc chi cũng soi thấu, vật chi cũng soi thấu, vật chi cũng trông thấy”. Người ta vẽ chung quanh Thiên Nhãn những tia sáng của mặt trời, để chỉ rõ Đấng Chúa Trời la ngôi Thái Dương chơn thật và chính Ngài soi sáng làm cho ấm áp và đem sự sống cho cả muôn loài. Đấng Chúa Trời thật là ánh quang trường cửu.

Vả lại, trong một bài Thánh giáo, Đức Cao Đài có dạy rằng:

“Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng Con Mắt mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho các con hiểu chút đỉnh:

Nhãn thị chủ tâm – Lưỡng quang chủ tể.

Quang thị thần – Thần thị thiên – Thiên giả ngã dã”.

Ngày xưa, triết gia kiêm khoa học gia Hy Lạp ông Aristote cũng nghĩ biểu hiệu của Đấng Chúa Tể Càn Khôn ra như thế nên khi ông Secundus hỏi quan niệm của ông về Đấng Chúa Tể Càn Khôn, ông trả lời rằng: “Chính là Đấng trọn lành tự nhiên mà có, là cao thâm không sao thấy đặng, là một Đấng mà người ta không thể hiểu nổi, là một Thiêng Liêng Trường Cửu thông suốt cả vạn vật, là một Thiên Nhãn luôn luôn mở, là một chất tinh tuý của muôn loài, là một quyền năng có nhiều danh hiệu, là một bàn tay thần thông vô cực, Dấng Chúa Tể Càn Khôn tức là khối quang năng, trí tuệ và động lực”.

Nhân loại vào một khoảng trong con đường tiến hoá lại tượng hình Đấng Chúa Tể Càn Khôn tương tự như mình để chỉ rằng quan niệm của mình đối với Đấng ấy là thế. Ngày nay, nhờ trình độ lên cao một chút, nên trí tưởng của nhân loại hiểu Đấng Chúa Tể Càn Khôn một cách cao siêu hơn, rộng rãi hơn. Có lẽ, một ngày kia, nhân loại đặng tiến hoá hơn lên, sẽ nhờ lực lượng của phương pháp trừu tượng để hiểu Đấng Chúa tể Càn Khôn ở chỗ tinh tuý, để ngắm xem Ngài một cách trực tiếp, giữa sự vinh diệu cực đẹp của Ngài, khỏi phải cậy đến khoa mỹ thuật nhân gian mà sự chế tạo từ những hình tượng vụng về của dân Phi Châu cho đến những bức tranh và những pho tượng kiệt tác của đời nay, chỉ tưởng tượng Ngài ra một cách bất ổn .

Ngọc cơ: Tôi xin tạ lỗi cùng chư quí vị về câu chuyện không đâu ấy và xin bàn tiếp câu chuyện của Quan Phủ Ngô Văn Chiêu là vị môn đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài.

Năm năm sau, vào khỏang năm 1925, một nhóm thư ký thuộc về các Ty Sở của Chính phủ Nam Kỳ cư ngụ tại SG, đồng hiệp nhau lại tổ chức Xây Bàn mỗi buổi tối để tiêu khiển. Kết quả của bủoi ban đầu cũng tầm thường, song nhờ sự bền chí, nhờ sự tập luyện nhuần nhã rồi sau mới đặng kết quả tốt đẹp. Mấy vị ấy tiếp được nhiều bài rất hay, rất linh hiển của Thần Tiên trả lời cho những câu hỏi hoặc bằng văn xuôi hoặc bằng văn vần theo các lối thi phú đối. Cha mẹ và các bằng hữu quá vãng của các vị ấy lại hiện về nhập vào bàn để nói việc gia đình và để lời chỉ bảo.

Trong các chơn linh nhập cơ, có một vị làm cho cả nhóm để ý nhứt và hằng vãng lai và gỉang dạy nhiều bài triết lý rất cao siêu. Vị ấy không chịu xưng danh mặc dù nội đàn hết sức cầu khẩn cũng vậy. Chẳng bao lâu có nhiều vị khác đến hầu đàn rất đông. Lúc bấy giờ đàn cơ có vẻ nghiêm trang và có thường hơn trước. Vì cách Xây Bàn bất tiện, nên Đấng Chơn Linh nặc danh kia mới dạy tìm Ngọc cơ mà dùng.

Sự biểu lộ: Đêm 24 tháng chạp năm 1925, nhằm lễ Noel, Đấng Chơn Linh thuở giờ không chịu xưng danh, cho biết rằng Ngài là Chúa Tể Càn Khôn, là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế tá danh Cao Đài, đến truyền Chơn Đạo tại nước Việt Nam. Từ đó, đấng Tôn Sư Chí Tôn khởi sự truyền mối đạo mơi cho các môn đồ trước tiên của Ngài.

Cũng trong năm ấy, ông Lê Văn Trung cư ngụ tại Châu Thành Chợ Lớn nhập môn vào đạo Cao Đài. Vốn là Cựu Hội Đồng Quản Hạt và Hội Đồng Thượng Nghị, ông Lê Văn Trung trước kia vẫn còn đeo đuổi theo tiền tài và các cuộc vui say của đời, nay hẳn thật nhiệt tâm theo đạo mới.

Sau khi giao tiếp với nhóm Phò Loan và với Quan Phủ NgôVăn Chiêu, ông Lê Văn Trung đắc lệnh Đức Chí Tôn chủ trương truyền bá mối Đạo mới. Nhờ đó mà một nhóm người tín đồ mới được thành lập. Nhóm nầy có 12 người, toàn là người Au học và quan viên của chính phủ Nam Kỳ tại Sài Gòn.

Sự hăng hái và tấm lòng xálợi buổi đầu của những vị Tiền khai ấy qui tụ số tín hữu mỗi ngày một đông. Từ đó, đạo Cao Đài bước qua khỏi phạm vi chật hẹp mà lan tràn khắp trong dân gian.

Cao Đài xuất thế: Số người nhập môn trùngtrùng điệpđiệp. Nhờ vậy, qua năm Bính Dần, nhằm ngày 15/10 (19/11/1926), Đạo Cao Đài chào đời bằng một Đại lễ cực kỳ long trọng giữa muôn muôn ngàn ngàn đạo hữu các nơi trong Nam Kỳ qui tụ tại chùa Từ LâmTự (Gò Kén, Tây Ninh). Đạo Cao Đài đã chính thức công khai ra đời là vậy! Đêm nay là năm Mậu Dần (1938), đạo Cao Đài đã trải qua một con giáp tức 12 năm và đã được 13 tuổi rồi.

 Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, mối Đạo   mới mẻ nầy, đã được trên mấy ngàn tín đồ. Và nếukhông gặp những sự hạn chế khó khăn thì mối Đạo đã lan tràn khắp cõi Đông Dương và có đến mấy mươi triệu tín đồ.

Thử hỏi Đạo Cao Đài có chi mà độ sanh chúng mau chóng như vậy ? Chẳng có chi khác hơn là tính cách đại đồng, làm cho mối đạo, dù ở thời buổi nào, cảnh ngộ nào, cũng có thể thích hợp theo trình độ tiến hoá của nhân loại hết.

Cao Đài Đại Đạo: Tức thị là Ngũ Giáo qui nguyên. Ngũ giáo kể đây cũng gọi là Ngũ Chi Đại Đạo, là Nhân đạo (Nho giáo), Thần đạo (Thần đạo Nhật Bản), Thánh đạo (Gia Tô giáo), Tiên đạo (Lão giáo) và Phật đạo (Phật giáo).

– Về phương diện luân lý, Cao Đài Đại Đạo nhắc nhở người đời những bổn phận đối với mình, đối với gia đình, đối với xã hội là một gia đình lớn hơn, đối với nhân loại là một gia đình đại đồng.

– Về phương diện triết lý, Cao Đài Đại Đạo khuyên nên khinh rẻ những danh lợi quyền tước, nhữntg sự xa hoa phù phiếm, tóm lại, là gỉai thoát những sự buộc ràng của xác thịt để tìm sự hạnh phúc hoàn toàn của tâm hồn trong cõi hư linh.

– Về phương diện nghi lễ, Cao Đài Đại Đạo dạy thờ Trời là Ngọc Hoàng Thượng Đế, cha chung của quần linh, thờ các Đấng Thiêng Liêng cao thượng đã đặng liệt vào trong “Tam Thừa Cửu Phẩm” siêu hình. Cao Đài Đại Đạo công nhận sự thờ phụng Tổ Tiên, nhưng cấm cúng thực phẩm huyết nhục và đốt giấy tiền vàng bạc, giấy áo quần và giấy vãng sanh.

– Về phương diện thần linh, Cao Đài Đại Đạo hiệp với các tôn giáo khác và những lý thuyết của khoa học triết lý duy tâm và khoa tâm lý, đồng thời công nhận rằng: Linh hồn vẫn có và vẫn sống luôn luôn sau khi xác phàm đã tiêu diệt. Cơ tiến hoá của linh hồn cũng có nhờ sự luân hồi chuyển kiếp và kết quả về những hành vi của con người đời sau do luật nhân quả.

Cơ qui nguyênLý thuyết của Cao Đài  Đại Đạo phần nào rút trong lý thuyết của các tôn giáo khác là vì muốn thực hành cơ qui nguyên Ngũ Giáo cho nên Cao Đài Đại Đạo phải dung nạp lý thuyết mà ai ai cũng công nhận là chân lý trường cửu, ý nghĩa của luật Trời. Chính do những chân lý trường cửu ấy, Cao Đài Đại Đạo kèm thúc lý thuyết mình. Nhưng chỗ nào mà một ít chân lý đã bị người ta hiểu lầm hoặc giảng giải sai biệt thì Cao Đài Đại Đạo lại có trách nhiệm đem các chân lý ấy trở về nguyên lý chính.

Ngày xưa, Đức Gia Tô đã chẳng có nói câu nầy sao? “Nhiều việc của Ta nói cho các ngươi ngay đây, các ngươi không thể hiểu đặng và có lẽ Ta cũng có nhiều việc phải nói cho các ngươi mà có lẽ các ngươi cũng không hiểu rõ; bởi thế, Ta chỉ nói với các ngươi bằng những lời nói bóng. Bởi sau đây, Ta sẽ sai xuống cho các ngươi vị Thần an ủi các nỗi khổ. Vị Thần chân lý, vị Thần ấy sẽ lặp lại và giải rõ nghĩa các việc”.

Khi đức Phật Thích Ca vừa khởi thoát xác để nhập vào cõi Niết Bàn, đệ tử quí nhứt của Ngài là Ananda rơi luỵ mà hỏi Ngài rằng: “Khi Tôn Sư đi rồi, còn ai dạy bảo chúng con?” Đức Phật mới dạy rằng: “Ta chẳng phải là vị Phật đầu tiên hay là vị Phật cuối cùng giáng trần. Thời gian đến sẽ có một vị Phật khác hiện ra tái thế, một vị Chí Thánh, một vị Đại giác cực thượng, một vị Hướng Đạo vô song của nhân loại, một vị Chúa Tể cả Thần Thánh và loài người. Đấng ấy sẽ truyền một mối Đạo rất vinh diệu về buổi chung cục, rất vinh diệu hoặc ở tinh thần cao cả hoặc ở ý nghĩa của câu văn. Đấng ấy sẽ công bố một kiếp đời đạo pháp hoàn toàn và tinh anh.

Đức tin: Đời nay hơn đời nào hết, Đấng an ủi các nỗi thống khổ, Thần Chân Lý, Đấng Hướng Đạo quần linh mà Đức Gia Tô và Đức Thích Ca đã báo tin trước rất cần ích cho nhân loại hiện đang lo sợ trong lúc chờ đợi những phong trào kinh khủng nay mai.

Lý luận và khoa học mà người ta lấy đó làm tự đắc về trí thông minh và sự học thức của mình đã đem thay thế cho tôn giáo nay thấy thất bại lần lần. Hiện giờ nhân loại vô phương đang ở trong sự khủng bố mỗi phút mỗi tăng, phải ở vào cảnh ngộ của kẻ bị tai nạn và bị nỗi thống khổ dập dồn mà tìm lại đặng cái đức tin của thời ấu thơ mà cũng là đức tin về cái thế hệ trước nhứt của loài người biết tư tưởng.

Đức tin kia vẫn bất di bất dịch ở chỗ tinh tuý nhưng nó đã biết bao lần bị hiểu và bị giải thích một cách sai lầm. Đức tin đã có một lần chót kia chỉ bày cho các Thánh mà hình như các Thánh và bất luận là ai khác nữa cũng không hiểu đặng tường tận sự ấy. Chân lý dầu có đem raphô diễn trăm ngàn cách khác nhau, cũng không sao phô diễn tường tất đặng và cần phải có nhiều giáo chủ ra đời để chỉ rõ cho chúng ta thấy các mặt của chân lý ấy.

Sự tiến hoá của nhân loại: Nhờ sự tiến hoá của nhân loại trải qua mấy ngàn thế kỷ, trí khôn ta được mở mang, lòng thương ta được nới rộng và thâm thuý hơn, nên ngày nay ta mới đủ sức hiểu rõ hơn tổ tiên ta, những chân lý ấy vì tổ tiên ta khi xưa không làm đặng vậy. Lại nữa, cái chi thích hợp cho sự cần thiết của đời từ 2000 hoặc 2500 về trước, tất nhiên không thích hợp với những cần thiết và sự hiểu biết một cách hoạt bát về vũ trụ của chúng ta ngày nay.

Một tôn giáo cần nhứt phải phù hợp với điều mà chúng ta thấy chung quanh ta. Bởi thế, chúng ta cần phải có một vị Chưởng giáo mới không phải để dạy chúng ta những điều mới mà chính là để công bố một lần nữa những chân lý tối cổ kia để tô điểm nó ra vẻ mới mẻ và phô bày nó ra bằng một giọng nói đẹp đẽ  hầu  làm cho lạ tai và cảm hoá tâm hồn người đời nay vậy.

Các Thánh thơ truyền lại cho chúng ta những đạo lý của các đấng Chưởng giáo. Nhưng chúng ta phải hiểu rằng: các Thánh thơ ấy là những bài trước thuật, những điều mà người ta cho rằng các đấng ấy đã có nói. Phần nhiều những Thánh thơ ấy viết ra sau một thời gian khá lâu các Đấng ấy còn tạ tiền và bị tác giả, để thêm màu mè, hương vị và tuỳ theo sự thông minh và sự học hỏi của họ. Một tác giả truyền lại cho chúng ta, phải chăng là những lời của Đấng Chưởng giáo nói, đó chính là điều của họ hiểu và còn nhớ trong giáo lý của Tôn Sư họ dạy. Vị tác giả ấy, thật tình đã ký thuật thiếu sót hoặc làm sai lạc các giáo lý ấy. Chân lý trường cửu là bất di bất dịch, nên chúng ta không thể sửa đổi cái tinh tuý của nó đặng, nhưng chúng ta có thể duyệt lại bài trước thuật các chân lý ấy vì sự duyệt nầy là phần của các phàm nhân miễn đừng làm hư hại cái đại ý của nó và chúng ta có thể phô bày các chân lý ấy ra bằng một cách giải nghĩa mới mẻ, thích hợp với kiến thức của chúng ta ngày nay.

Sự gỉai thích: Một cách giải thích mới mẻ các chân lý ấy – thật rất cần yếu, vì trải qua bao nhiêu thế kỷ, các chân lý ấy đã bị sửa đổi hình thức và sai lạc cho đến nỗi ngày nay không thể nào nhìn nhận được, và cái ý nghĩa của giáo lý chân truyền kia đã bị mờ ám vì các lời chú thích rất chi tiết và lễ hội đã chồng chất  lên,  đã đảo ngược nhau, hoặc đã sai biệt khác đi.

Thật ra, chúng ta vốn chưa bắt đầu đem ra thực hành sống theo giáo lý cổ truyền, giáo lý nầy bất luận là thời đại nào cũng có thể dùng được. Lẽ cố nhiên, điều ấy là chúng ta trốn tránh các trách nhiệm của chúng ta mà tự nói rằng: Khi các vị Chưởng giáo ấy còn tại tiền, các vị ấy chưa từng hiểu biết những nỗi khó khăn khúc khuỷu của nền văn minh hiện thời và không gặp dịp để giải quyết những điều khổ trí của đời phức tạp hiện đại chúng ta, và dẫu rằng: Lý thuyết của các vị có đẹp đẽ đến đâu cũng không thể đem ra thực hành giữa cái đời bận việc xao xuyến như ngày nay được. Lại nữa, dầu có nhiều kẻ gắng kiệm khép đời họ đúng theo các đạo lý thiên nhiên ấy cũng không có thể được một nước nào đem những lời đó ra thi hành trong sự giao tế với các nước khác.

Lòng đại đồng bác ái: Về mỗi phần đẳng cấp thì họ chối hẳn các lý thuyết ấy bằng những hành động của họ mà họ chỉ tự thú ngoài môi. Mấy năm sau nầy, ngườii ta đã bàn bạc rất nhiều đến sự chấn hưng xã hội. Sự chấn chỉnh nền văn minh. Thật vậy, các khoa như quốc sử, xã hội và triết lý có thể chỉ đường dẫn lối nhưng không thể tạo ra cái mãnh lực làm cho phong trào chấn hưng kia hoạt động được. Chúng ta không thể tin cậy nơi chúng ta cái nghị lực và cái cảm hứng rất cần yếu cho sự đổi lời nói ra việc làm và kết qua. Bởi vây, chúng ta cần có một vị Chưởng giáo để chỉ rõ cho chúng ta phải làm thế nào thực hành các giáo lý ấy với những vấn đề và những điều mắc mỏ nó cho đời kim thời nầy, để ban bố cho chúng ta cái cảm hứng biết lấy cái chân lý tối cổ kia làm tiêu chuẩn cho đời chúng ta để dạy chúng ta đức bác ái, đại đồng, để công bố lời hoà bình và dứt tiệt những mối bất hoà của các sắc dân để xướng lên những lời bác ái hầu làm cho các giai cấp đang kình chống nhau hiểu rằng  cả thảy đều là một và thực hiện sự hiệp nhứt, sự hoà bình, đức bác ái, không giống như sự hiệp nhứt, hoà bình, bác ái, mà ngày nay người ta cảm thấy trong những Chi Phái nhỏ nhen một lòng một dạ, vì một chủ nghĩa, một đạo, mà là một cuộc hiệp tâm hiệp trí gồm cả các sắc dân, liên hiệp nhau và nâng tinh thần của các quốc gia và của tất cả các tôn giáo lên cao.

Giáo lý: Đức Chưởng giáo trong thời đại nầy tức là Đức Cao Đài, Đấng Chúa Tể Càn Khôn hiện ra lần thứ ba. Đối với một phần nhân loại mà trình độ đã lên cao thì Đức Cao Đài không cần phải hiện ra một cách hữu hình cho nhân loại thấy. Ngài chỉ giao tiếp với nhân loại bằng cách giáng cơ.

Nhờ Ngài, người đời mới biết do đâu mình sanh ra, mình sẽ đi về đâu? Tại sao mình lại sanh vào cõi trần nầy? Tại sao mình phải đau đớn trong một thời gian và mình thấy đặng luật công bằng của Tạo hoá bủa khắp đâu đâu. Nhờ đó, người đỡi mới hiểu rằng: Linh hồn vẫn tiến hoá trải qua bao ngàn kiếp rất cần ích cho sự ấy.

Người đời hiểu rõ rằng: Các linh hồn đồng ở một gốc mà ra, phát sinh đồng đẳng như nhau, tất cả đều có sức tiến  hoá giống nhau., do theo sự tự do chủ định của mình. Người đời biết rằng có linh hồn  là đồng thể chất, chỉ khác nhau ở sự tiến hoá. Các linh hồn vẫn do số thiên định, giống nhau và sau rồi sẽ cùng chung đi đến một mục đích. Người đời biết rằng: Không có kẻ nào Trời ghét, cũng không có kẻ nào Trời thương hơn kẻ khác. Trời không có sanh kẻ nầy để được sung sướng, kẻ hưởng phước mọi bề mà kẻ kia lại bị tai nạn đau đớn luôn luôn. Người đời biết rằng: Điều lệ tiến hoá của mình là ở trong các lời dạy: “Hãy yêu Đức Chúa Tể Càn Khôn trên vạn vật và yêu người đồng chủng như mình. Tất cả luật trời là đóa, không có luật trời và Đấng Tiên tri nào nữa?

Cái chỗ làm cho đạo Cao Đài được tốt đẹp, mới mẻ, và đặc sắc là: Đấng Chúa Tể vô hình mà vẫn hiện diện, đối với người đời là một đấng dìu dắt, dạy bảo khuyên lơn, nung chí, an ủi người trong những cơn khảo đảo.

Đức Cao Đài có dạy cho cả thảy rằng:”Các con hãy đến cùng Thầy, Thầy sẽ an ủi các con. Thầy sẽ tạo cho các con một đời sống êm ái hơn và những cơn khảo đảo của các con sẽ được dễ chịu hơn. Thầy sẽ dùng điển quang của Thầy rọi đường tăm tối quanh co cuả các con đi. Con nào chịu đau đớn, khổ não, được Thầy ban cho hy vọng, các con nào tầm chân lý quang minh, con nào nghi kỵ và chán nãn, Thầy sẽ cho sự chắc chắn và đức tin.

Với một ánh quang mới mẻ, đức Cao Đài soi sáng những pha mở trí và dạy cho nhân loại: sự tín ngưỡng của đời quá vãng, khoa học, triết lý, tôn giáo. Ngài giũ tro bụi đã bao phủ lớp ngoài của  các  khoa ấy để bạn  vào những sự sáng sủa thêm lên và sự đẹp đẽ mới mẻ.

Chúng ta hãy lắng nghe những lời huyền bí tiên tri của Ơn Trên. Các lời ấy đã đem lại cho chúng ta một sự mới của tư tưởng với những sự huyền bí của thế giới vô hình mà người đời cần phải hiểu để được sống hoàn toàn hơn, được hành động đúng đắn hơn và được thoát xác một cách xứng đáng.

Chúng ta hãy đi vào tương lai, vào đời sống nẩy nở bằng con đường vô lượng vô biên do khoa duy tâm chấn hưng và cao khiết đã mở rộng cho ta.

Xin cám ơn và kính chào liệt quí vị.

  Nguyễn Phan Long

Leave a Reply