Vai tuồng và sự cần thiết của tôn giáo hiện nay trên hoàn cầu

Vai tuồng và sự cần thiết của tôn giáo hiện nay trên hoàn cầu

(Bài thuyết đạo của Ngài Ngọc Đầu Sư Huệ Lương Trần Văn Quế tại Trung Hưng Bửu Toà ngày 10//7/1956-BT).

Kính thưa…

Bài thuyết trình hôm nay, nội dung gồm có 4 vấn đề:

I- Cuộc khủng hoảng tinh thần của hoàn cầu hiện nay phát xuất từ đâu?

Để trả lời câu hỏi trên đây, chúng ta cần đi ngược dòng lịch sử của nhân loại để rồi lần lượt ôn lại những cuộc biến thiên từ Á sang Âu thúc giục khi thì ồ ạt, khi thì ngấm ngầm những cuộc thăng trầm của các nền văn minh kim cổ. Hầu hết ở Á Đông có nền văn minh Trung Hoa với vị thuỷ tổ Hán tộc là vua Phục Hy (4449 TCN). Thứ đến là nền văn minh An Độ với pho cổ kinh Vệ Đà  (3500 TCN), đồng thời ở Bắc Phi có nền văn minh cổ Ai Cập (4000 TCN), kế đến là nền văn minh Babilone ở vùng Cận Đông (khoảng 3000 năm TCN). Các nền văn minh nói trên sau khi đã chói rạng một thời, đã lần lượt sụp đổ dưới sức tàn phá của các mối giặc ngoại xâm. Tiếp theo đó, vào khoảng 1000 năm  TCN xuất hiện nền văn minh cổ  Hy Lạp với tính chất bán Au bán Á và kéo dài mãi đến năm 339 mới dứt. Thay chân nền văn minh cổ Hy Lạp là nền văn minh La Mã kéo dài từ năm 337 dến năm 1453 thì cáo chung. Từ năm 800 nền văn minh La Mã trở nên lu mờ và thường bị các dân man rợ ở Trung Âu và Tây Âu tràn xuống đánh phá. Lịch sử Âu Á cho thấy rằng các dân tộc đã thọ hưởng các nền văn minh nói trên, sau một thời gian hùng cường và lãnh đạo các giống dân yếu hèn hơn mình phải chịu luật phế hưng cho đến đổi công trình xây dựng vĩ đại của các thế hệ trước không còn gì. Các thế hệsau dưới hình thức một nền văn minh mà người thời ấy cho là mới, thì lại chỉ lo tìm trở lại những gì đã được tìm ra mấy ngàn mấy trăm năm về trước. Thật là một sự phí phạm thì giờ và trí lực lớn lao đáng tiếc !

Từ năm 800 đến năm 1453 tình trạng đen tối về tinh thần đã ngự trên toàn cõi Thái Tây do hoạ chiến tranh đủ loại gây ra (nội chiến và ngoại xâm) gieo rắc khắp nơi cảnh máu xương sông núi. Ấy là thời kỳ “Trường dạ” của giai đoạn trung cổ thời đại. Bị khủng bố về vật chất bởi nạn đói rách, chết chóc, bị khủng bố về tinh thần vì thiếu trường thiếu thầy và thiếu sách vở (máy in chữ chưa được phát minh), con người chỉ tự an ủi bằng sự trở về Đạo. Đạo hay nói rõ hơn là tôn giáo, là nơi ẩn trú, là nguồn an ủi duy nhất của con người trong thời buổi ấy. Trong các cuộc Đông chinh Thập tự quân, để chiếm lại thành mộ của Đấng Cứu Thế ở Cận Đông, các đạo quân phát xuất từ các xứ Tây Bắc và Trung Au đã được cơ hội duy nhất là ngắm xem các di tích của hai nền văn minh Hy La ngày xưa. Sau khi trở lại quê nhà, những học giả đã tham gia vào các đạo quân ấy, bèn nhất quyết làm sống lại 2 nền văn minh nói trên mà họ cho là cực đẹp. Đó là thời kỳ văn nghệ phục hưng. Văn chương và mỹ thuật phục hưng được một thời đại rồi lại suy yếu cho đến ngày nay. Trái lại, khoa học hình như chịu ảnh hưởng của một chiếc đũa thần đã lớn, lớn mãi không ngừng, vượt xa các điều ức đoán. Hai nền văn minh Hy La hiệp lại với giáo lý của Đạo Ky Tô hợp thành 3 chân của cái vạc là nền văn minh Âu Mỹ ngày nay.

Lúc đầu vì khoa học mới chớm nở, các lý lẽ đưa ra vẫn còn rụt rè cho nên không đủ phá nơi các lập luận, các học thuyết thời ấy. Nhưng từ thế kỷ thứ 18, khoa học ngày một tiến bộ, các phát minh tối tân đã chứng minh một cách phũ phàng những sai lầm của các lập luận và học thuyết. Kể từ ngày đó, đức tin đã suy nhược dần trong các tâm hồn đối với các học thuyết cũ cũng như đối với các giáo điều. Vì lẽ đó mà chân thứ ba của cái vạc văn minh Âu Mỹ nói trên phải suy yếu đi. Thêm vào đó, các phát minh mỗi ngày mỗi tăng là những nhác búa chí tử đập vào chân vạc ấy khiến nên tâm hồn của một số lớn quần chúng đã hoang mang lại càng hoang mang thêm! Mà hễ tâm hồn cá nhân loạn thì cá nhân loạn, cá nhân loạn thì gia đình loạn, gia đình loạn thì tất nhiên xã hội phải loạn. Mà xã hội loạn thì hoàn cầu làm sao yên tịnh được. Vì lẽ đó mà ngày hôm nay thuyết duy vật dựa vào thực nghiệm khoa học đã nghiễm nhiên trở thành một làn sóng cao nhất, mãnh liệt nhất, cùng đập mạnh vào cái thành trì đạo đức luân lý kiên cố của thời xưa. Các nhà đạo đức đang tìm đủ mọi cách để chấn hưng  nền đạo đức đang bị lung lay tận gốc rễ! Vì thế, mà nhiều cuộc hội nghị Tôn Giáo Quốc Tế đã được mở ở nhiều nơi trên thế giới và gần đây phong trào chấn hưng đạo đức đã được đề xướng lên ở nhiều nước.

Sau cuộc thế chiến thứ nhất, cuộc khủng hoảng tinh thần nói trên đã xụất hiện và vào khoảng năm 1936 ở Au Mỹ người ta đã nói đến ngàytàn của nền văn minh Âu Tây.

Về điểm nầy, nhà độc tài phát xít Moussolini trong tờ báo Les Annales năm 1936 có viết một bài nhan đề là “Tiếng báo nguy”, đại ý ông nói: “Chúng ta đừng tưởng rằng nền văn minh của chúng ta sẽ tốt đẹp mãi. Nhiều nền văn minh trước kia ntốt đẹp hơn nền văn minh của chúng ta nhiều, nhưng một bữa kia vì một duyên cớ không thấy được, không mấy ai để ý, các nền văn minh ấy đùng một cái đều sụp đổ tan nát ra mảnh mún chẳng khác nào một tảng đá bị nghiền nát dưới sức nặng của một ống cán đường”.

Sau cuộc đệ nhị thế chiến (1939-1945), tình trạng khủng hoảng ấy lại càng trầm trọng hơn lên. Vết thương lòng sau cuộc đệ nhất thế chiến (1914-1918) chưa hàn gắn xong thì năm 1939 lại bị xé ra lớn thêm! Ngày nay khắp năm châu, ngòi lửa chiến tranh đã âm ỉ cháy dưới hình thức nhiều đóm nhỏ để rồi một ngày kia vì sự sơ xuất của bên nầy hay bên kia, sẽ trở thành một đám cháy khổng lồ gây đại hoạ cho năm châu. Thật là một viễn tượng hãi hùng mà không một ai dám nghĩ đến.

Hiện nay, sau trận thế chiến thứ 2, tâm địa con người trở nên kỳ lạ như sau: “Con người ngày hôm nay dạn giết người mà cũng lại dạn giết mình. Phải chăng  sở dĩ có tình trạng tâm lý ấy là vì các phát minh khoa học đã giúp cá nhân con người có những phát minh tối tân và hữu hiệu về các việc ấy.

Về điểm nầy, ông Jacques Pirenne, tác giả bo ‘thế giới Sử” đã nói lên như sau: “Khoa học có tiến bộ mà giá trị con người không có lớn thêm”.

II- Trước sự khủng hoảng hiện nay, các tôn giáo có trách nhiệm gì ?

Như trên đã nói, nếu con người loạn thì gia đình loạn. Mà hễ gia đình loạn thì xã hội loạn. Nói một cách khác, sự hỗn lọan của cá nhân là nguyên nhân của tình trạng khủng hoảng tinh thần trên hòan cầu. Vậy muốn chấm dứt sự khủng hoảng ấy, cần phải huấn luyện lại cá nhân con người. Về điểm , các tôn giáo hiện hữu trên hoàn cầu cần huấn luyện lại các con chiên, đệ tử của mình theo một kế họach chung do tổ chức Liên Hiệp Quốc đưa ra. Để công việc làm nầy hữu hiệu, các tôn giáo nói trên cần bắt tay nhau.

Về điểm chót nầy, tại Hội Nghị Tôn Giáo Quốc Tế khai mạc tại thành Atimis (Nhật Bản) vào tháng 8/1955, một nhà tu hành Nhật có đứng lên phát biểu ý kiến như sau: “Từ xưa đến nay, các tôngíao mắc phải 3 chứng bệnh trầm kha: một là bệnh tự tôn, tự coi mình là hơn, là trên hết. Hai là bệnh độc thiện kỳ thân, tự túc, tự mãn, không muốn giao hảo với ai. Ba là bệnh không tham gia công tác xã hội. Nếu 3 chứng bệnh mà còn thì các tôn giáo tự mình sẽ đi tới chỗ suy yếu rồi tự diệt”.

Nhà tu hành ấy lại còn nói tiếp: “Hiện nay hoàn cầu mắc phải một đám cháy lớn, các tôn giáo hành động riêng rẽ chỉ là những gáo nước lẻ tẻ không sao tưới tắt đám cháy lớn ấy được. Trái lại, nếu các tôn giáo hiệp sức lại thì nghiễm nhiên sẽ trở thành một khối nước khổng lồ có thể tưới tắt ngay đám cháy lớn ấy được”. Chính ngay trong hội nghị Tôn Giáo Quốc Tế nầy mở tại thành Tokyo, toàn thể đại hội đều trình lời yêu cầu sau đây lên tổ chức Liên Hiệp Quốc: “Đại Hội Tôn Giáo Quốc Tế yêu cầu Liên Hiệp Quốc dành cho mình một số ghế tại hội trường của tổ chức”.

Sau ngày ấy, đại hội Tôn Giáo Quốc Tế nói trên đã trở thành Hội Liên Trợ Tôn Giáo Quốc Tế có mục đích bênh vực nền hoà bình thế giới và quyền lợi các tôn giáo hội viên.  Lời yêu cầu ấy xét ra rất chí lý ở chỗ: Các đại  diện Hội Liên Trợ Tôn Giáo Quốc Tế tại Liên Hiệp Quốc sẽ là những bậc chân tu có chứng quả rõ ràng, nghĩa là những bậc sáng suốt để nhận định mọi việc hợp với lẽ phải thì may ra các quyết nghị của Liên Hiệp Quốc mới tránh được những điều thái quá và bất cập do nhữing mối tình không được vô tư xuôi nên. Ngoài các việc nói trên, hội nghị Tôn Giáo Quốc Tế đã đặt nặng vấn đề cầu nguyện Hoà Bình cho Thế Giới. Ngày được chọn là ngày 6/8 mỗi năm, tức là ngày mà thành Quang Đảo của Nhật đã bị 2 trái bom nguyên tử của Đồng Minh đốt ra tro !

Như thế, sự cầu nguyện với ý nghĩa tốt lành là điều mà các tôn giáo đặc biệt chú ý.

Nói tóm lại, Đạo (mà tôn giáo là sự thể hiện) và Đời là hai hình thức của đời sống nhân loại. Đạo ngày hôm nay ảnh hưởng đến sự sống của nhân loại là vì Đời nên nhờ Đạo. Vì vây mà Đời Đạo phải đi cặp nhau như hồn với xác. Nếu xác suy nhược thì hồn làm sao mà tráng kiện được. Cuộc khủng hoảng tinh thần của nhân loại ngày hôm nay ảnh hưởng không ít đến Đạo. Đạo có nhiệm vụ cứu Đời khỏi bệnh ngặt ấy cùng mưu cầu hạnh phúc chung.

III- Sự cần thiết của Tôn giáo đối với nhân loại hiện nay

Thế giới ngày nay thường chú trọng về thế lực vật chất, chỉ đề cao sứic mạnh cơ khí và nguyên tử, có thể đảo hải di sơn, nhưng trong tất cả các sức mạnh biểu lộ hay ngấm ngầm đã hun đúc uốn nắn vận mệnh nhân loại, đã biến đổi cải hoá xã hội nhân loại thì sức mạnh tinh thần vẫn đóng vai chủ động. Cơ khí tuy hiệu nghiệm, nguyên tử tuy mạnh mẽ, nhưng cũng phải có tinh thần chỉ huy, con người điều động. Không có người với cái tinh thần sáng tạo của nó thì sức mạnh của vật chất, của cơ khí và nguyên tử chỉ là sức mạnh mù quáng vô tri, vô giác. Chính tinh thần nhân loại đã sáng tạo ra máy móc, đã phát minh ra nguyên tử, đã khám phá những bí ẩn của vật chất. Nhờ tinh thần sáng tạo ấy mà nhân loại ngày nay đã vượt được biết bao trở ngại ngăn cách, sự giao thông, tiếp xúc của các dân tộc với nhau, đã biến đổi tất cả diện mục của hoàn cầu. Đi đến được kết quả ấy chính là nhờ sức mạnh của tinh thần, mà chỉ ở nhân loại mơi có đến mức độ tối linh, nó ngấm ngầm thúc đẩy và hướng dẫn nhân loại từ trình độ cầm thú thụ động thế lực vật chất đến trình độ chủ động, văn hoá các thế lực vật chất như ngày nay. Sứ mạng của tinh thần đã đẻ ra văn hoá và văn minh, đã tạo ra khoa học và kỹ thuật, đã phát triển ra nghệ thuật và tôn giáo.

Trong tất cả các thế lực đã hun đúc vận mệnh của xã hội nhân loại, không một thế lực vật chất hay tinh thần nào mạnh bằng thế lực của tín ngưỡng tâm linh. Người có tín ngưỡng tâm linh có thể “Tử vì Đạo”. Ngườicùng một tín ngương, thân mật với nhau hơn cả tình gia tộc, dân tộc hay chủng tộc. Bởi thế mà vì tín ngưỡng, người một xứ nầy đã hy sinh cho người một xứ khác, người da trắng đến săn sóc cho người da đen, người quí tộc đã cứu giúp người bần cùng, người lành mạnh đã săn sóc đến ngừơi bệnh tật, lao, cùi… Và cũng vì tín ngưỡng chung mà các nhóm người biết phân giai cấp hay chủng tộc, đã đoàn kết vơi nhau chặt chẽ để cùng nhau tranh đấu hy sinh đến cả tính mạng cho một chính nghĩa, một lý tưởng. Tín ngưỡng  đã đoàn kết người ta mạnh mẽ hơn cả quyền lợi, hơn cả huyết thống. Cho nên, để giải phóng đất Thánh, các dân tộc Cơ Đốc Giáo đã cùng nhau đoàn kết liên minh trong cuộc chiến tranh thánh hoá, vượt lên trên tất cả biên giới phân chia chống đối của quốc tộc hay dân tộc. Và cũng vì tín ngưỡng khác nhau mà người cùng một huyết thống, cùng một quốc tộc có thể chém giết lẫn nhau như ở trong các cuộc chiến tranh tôn giáo biệt phái. Ấy vì tín ngưỡng đã phát triển và hướng dẫn sai đường sai mục đích chân chính vậy.

Sở dĩ tín ngưỡng tôn giáo có được sức mạnh ghê gớm, coi tính mạng như lông hồng là vì  nó là sức mạnh  tâm linh. Nếu hướng vào mục đích duy nhất đại đồng, là mục đích chân chính của nó thì sức mạnh ấy sẽ giúp cho nhân loại tiến bộ còn mau lẹ hơn tất cả các sức mạnh khác. Duy nhất đại đồng chân chính phải tìm ở ngoài giới hạn của hình danh sắc tướng, ở ngoài cả thơi gian không gian, và như thế chỉ phải quay vào tìm ở nội tại tâm hồn nhân loại, ở thực thể tâm linh siêu nhiên bất biến, ở cái “đức duy nhất” sáng tạo, cùng với tâm linh vũ trụ đồng điệu. Đấy là Thượng Đế tối cao msiêu mà tất cả các tôn giáo lấy làm trung tâm để phụng sự. Hoặc phụng sự bằng tình cảm, hoặc phụng sự bằng trí thức, hoặc phụng sự bằng lòng thành tín, trăm đường nghìnlối cùng nhau chúng ta tiến tới Duy nhất và Đại đồng.

Người còn là ngừơi, nhân loại còn là nhân loại, một động vật tối linh trong hàng dộng vật, chừng nào nó phấn đấu để vượt lên trên tính tự nhiên. Và cái tính tự nhiên ấy vừa ở bên trong vừa ở bên ngoài, gồm cả nội giới lẫn ngoại giới. Không những tự nhiên bao hàm nhưng định luật cai quản những phần tử vật chất ở ta và ở ngoài ta, mà nó còn là chính cái bản tính tế vi ở bên trong tâm hồn là cái sức mạnh động cơ tâm linh cai quản cả bên ngoài. Cho nên, làm chủ được ngoại giới tự nhiên như khoa học thực nghiệm ngày nay đã là công phu vĩ  đại, nhưng còn vĩ đại hơn nữa là công phu làm chủ được chính tâm hồn mình, điều khiển được những định luật nó cai quản được những dục vọng, tính tình và ý chí của nhân loại. Lão Tử nói: “Thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường”. Thắng được người chỉ là vũ lực, thắng được mình mới là sức mạnh. Công việc nầy là công việc của tôn giáo; cho nên, tôn giáo sẽ là sức mạnh ghê gớm, nó dịch sử nhân loại, khuôn đúc văn minh xã hội, làm động cơ ngấm ngầm trong tất cả hoạt động của người ta để tạo ra những cái gì cao cả vĩ đại của lịch sử thế giới.

IV-Tôn giáo với nền hoà bình nhân loại:

Sức mạnh tôn giáo đã là sức mạnh lớn lao vĩ đại như thế, tất nhiên các tín đồ tôn giáo phải nghĩ  đến việc phụng sự cho thế giới đương bị đe doạ bởi các hoạ chiến tranh dân tộc hay giai cấp, trong đó ngườinta đãđem những quyền năng kinh khủngcủa khoa học để lạm dụng tiêu diệt sanh linh. Và hiện nay nếu cuộc chiến tranh thế giới cứ nhân sự mù quáng của nhân loại mà bùng nổ theo đà 2 cuộc chiến tranh vừa qua, thì sức mạnh của chiến tranh khoa học phen nầy chắc chắn tiêu diệt toàn thể nhân loại. Như vậy, còn chờ gì nếu chẳng phải quá muộn các tôn giáo không liên két lại để bảo vệ cho hoà bình., cho tiền đồ của thế giới ? Nhưng hiện nay, muốn liên kết để thành một sức mạnh hiệu nghiệm của tâm linh, các tín đồ còn gặp nhiều trở ngại, như:

            1/ Thiếu sự tin cậy lẫn nhau giữa các tôn giáo hình thức khác nhau.

            2/ Tinh thần biệt phái độc tôn trong hàng các tôn giáo với nhau.

Chừng nào 2 trở ngại chính trên đây chưa tiêu tan ở hậu ý mọi người thì sự đoàn kết tín ngưỡng thiếu sự nhất trí đồng tâm không có thể trở nên một sức mạnh tâm linh hiệu nghiệm cho thế giới hoà bình. Muốn nhất trí đồng tâm giữa các tín ngưỡng tôn giáo ở thế giới, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng tinh thần của tôn giáo đại đồng.

Mỗi dân tộc và mỗi người chúng ta như thực nghiệm đã chứng minh đều cảm thấy ở tâm hồn mình sự đòi hỏi về tín ngưỡng cá biệt đặc thù cũng như tín ngưỡng phổ biến đại đồng. Ý thức về cá tính biết mình là một thực tại riêng biệt đã là một tiến bộ tinh thần, nhưng còn phải ý thức đến cái thực tính đại đồng vũ trụ bao hàm tất cả cá tính nhân loại hay dân tộc, quốc tộc hay tôn tộc thì mới thoả nguyện đầy đủ. Tôn giáo dân tộc đặc thù cũng cần thiết, mà tôn giáo đại đồng vũ tru  còn  cần thiết  hơn

Vì ngày nay thế giới đã thống nhất ở phương diện thực tế, nhưng còn thiếu một tinh thần  thống nhất.  Cái  tinh  thần thống nhất chính là một tín ngưỡng tôn giáo đại đồng, có thể công nhận được tất cả  các tín ngưỡng thành thực với tinh thần bình đẳng, cốt xây dựng, hoà hợp mà không phá hoại. Khẩu hiệu của nó là: “Tiên gíac giác hậu giác”. Giúp đỡ lẫn nhau ai nấy tiến triển trên con đường  tín ngưỡng truyền thống của mình để đi đến chân lý duy nhất nó biểu hiện ra thiên hình vạn trạng tuỳ theo điều kiện không gian và thời gian.

Dải đất Ấn Độ China nầy đã chứng kiến một sự thực hiện ở bản thân dân tộc Việt Nam cái tinh thần văn hoá hợp hoà hai phương diện cá biệt và đại đồng, nhân sinh và vũ trụ của bản tính nhân loại. Trước kia nó là trung gian nối liền hai khu vực văn hoá Ấn Độ và Chi na. Sự kết tinh ấy đã sản xuất cả một lớp nhân cách tâm linh thực hiện ở các bậc vua hiền, vừa anh hùng, vừa đạo sĩ, nhập thế để mà xuất thế.

Ngày nay, sau cuộc tiếp xúc với văn hoá khoa học và Cơ Đốc Âu Tây ở địa điểm trung tâm giao dịch giữa các cá tính văn hoá chính của thế giới, dân tộc Việt Nam với kinh nghiệm quá khứ sẵn sàng góp sức xây dựng nền tảng tinh thần thống nhất của thế giới trên sức mạnh của tín ngưỡng tâm linh đại đồng, duy nhất sáng tạo trong cá tính sai biệt.

Đấy là sức mạnh tâm linh  để  liên  minh  đoàn  kết các tín ngưỡng thành thật của các tôn giáo trên thế giới, đi đôi với khoa học chân chính đặng chống với các ma thuật khoa học quyền năng và tránh cho nhân loại cái hoạ diệt vong hồi kiếp của chiến tranh nguyên tử.

Trân trọng kính chào và cám ơn liệt quí vị.

Trần Văn Quế

Leave a Reply